lundi 13 octobre 2008

NHỮNG CHIẾC BÓNG



Em ở đó

trước mặt anh

trong ánh sáng của tình yêu

Và anh

anh ở đó

trước mặt em

với âm nhạc của tình yêu

Nhưng bóng em

trên tường

rình rập từng khoảnh khắc

của đời anh

Và bóng anh

cũng thế

rình chờ tự do của em

Thế nhưng anh yêu em

Và em yêu anh

như thể ta yêu ánh sáng và cuộc sống hay mùa hè

Nhưng bởi những giờ khắc tiếp nối nhau

không bao giờ điểm cùng lúc

hai chiếc bóng của chúng ta đuổi theo nhau

như hai con chó cùng một lứa

giật đứt khỏi cùng một sợi giây buộc

nhưng cả hai đều thù nghịch với tình yêu

chỉ trung thành với ông chủ

với bà chủ của chúng

và kiên nhẫn đợi chờ

nhưng run rẩy vì tuyệt vọng

chờ đôi tình nhân chia tay

đợi chờ

đời ta kết thúc

và cuộc tình đôi ta

chờ xương cốt chúng ta ném ra cho chúng

để vồ lấy

và che giấu cuộc tình và chôn vùi xương cốt

và tự chôn vùi luôn

tự chôn vùi cùng lúc

dưới tro tàn của khát vọng

trong mảnh vỡ của thời gian.


THÂN TRỌNG SƠN

dịch từ tiếng Pháp



LES OMBRES



Tu es là

en face de moi

dans la lumière de l'amour

Et moi

je suis là

en face de toi

avec la musique du bonheur

Mais ton ombre

sur le mur

guette tous les instants

de mes jours

et mon ombre à moi

fait de même

épiant ta liberté

Et pourtant je t'aime

et tu m'aimes

comme on aime le jour et la vie ou l’été

Mais comme les heures qui se suivent

et ne sonnent jamais ensemble

nos deux ombres se poursuivent

comme deux chiens de la même portée

détachés de la même chaîne

mais hostiles tous deux à l'amour

uniquement fidèles à leur maître

à leur maîtresse

et qui attendent patiemment

mais tremblants de détresse

la séparation des amants

qui attendent

que notre vie s'achève

et notre amour

et que nos os leur soient jetés

pour s'en saisir

et le cacher et les enfouir

et s'enfouir

et s'enfouir en même temps

sous les cendres du désir

dans les débris du temps




JACQUES PRÉVERT






mardi 7 octobre 2008

TỐNG BIỆT



Lá đào rơi rắc lối thiên thai,

Suối tiễn, oanh đưa luống ngậm ngùi.

Nửa năm tiên cảnh,

Một bước trần ai.

Ước cũ duyên thừa có thế thôi .

Đá mòn, rêu nhạt,

Nước chảy, huê trôi,

Cái hạc bay lên vút tận trời.

Trời đất giờ đây xa cách mãi.

Cửa động,

Đầu non,

Đường lối cũ

Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi.



TẢN ĐÀ






Nhạc PHẠM DUY - Tiếng hát THÁI THANH




RECONDUITE



Les fleurs du pêcher jonchent l’allée du domaine féerique

Au mot d’adieu du ruisseau et de l’oriole, l’âme mélancolique,

Après une demi-année au séjour céleste,

Je retourne au pas à ma demeure terrestre.

Des rêves anciens et des serments d'amour, voilà tout ce qui reste !

Les roches s’usent, les mousses se fanent,

Au grés des flots les fleurs s’écoulent.

Jusqu’en-haut le flamant s’envole.

Désormais les cieux et la terre sont séparés

Vers l’entrée des grottes

Et les sommets des monts,

Les vieux sentiers

Conduisent mes éternels pas errants

Au clair de lune miroitant.



Traduction de THÂN TRỌNG SƠN

9/2008.




L’ACTE FINAL



Enfin tout mensonge s’est révélé

mais je ne croyais pas

qu’il était si amer et dépouillé

La maladie est l’envers de la passion



Enfin toute illusion s’est évaporée

mais je ne pouvais pas

fermer les yeux transparents

le masque d’une vie débauchée.



Enfin l’amour chagriné s’est achevé

mais je ne pouvais pas

franchir le cœur submergé de cendres

Le verre d’eau s’est complètement épuisé.



Traduction de THÂN TRỌNG SƠN




H Ồ I C U Ố I

TẦN HOÀI DẠ VŨ



Cuối cùng thì những dối trá cũng bày ra

nhưng anh không ngờ nó lại trần trụi

đắng cay đến vậy

Bệnh tật là mặt trái của đắm say


Cuối cùng thì những ảo tưởng cũng tan đi

nhưng anh vẫn không bao giờ còn nhắm lại

được con mắt trong sáng

Chiếc mặt nạ của thói đời phóng đãng


Cuối cùng thì cuộc tình muộn phiền

cũng đã kết thúc

nhưng anh vẫn không thể nào bước qua

trái tim ngập giữa tro tàn

Ly nuớc đã không còn một chút cặn.



NARCISSE, CELUI QUI AIME SA PROPRE IMAGE



Au temps jadis

vivait un certain Narcisse

dont la parfaite beauté

charmait tant de jeunes filles

et dont le cœur aimé

glacial tout le temps restait !

Mais un jour

en regardant son image

dans les eaux d’une fontaine

il s’ éprit

de sa propre image.

Ô Narcisse

Ô jeune homme te mirant dans l’eau !

Comment connais-tu l’Amour

quand tu n’aimes que ton image ?



Quelle pitié pour Narcisse

et pour tous ceux qui

n’aiment que leur image !

Qu’on ne plaigne pourtant pas

Narcisse !

Car dans le courant de la vie

qui d’entre nous n’aurait pas

aimé sa propre image

comme lui ?




Traduction de THÂN TRỌNG SƠN




Narcisse –

k yêu chiếc bóng ca mình



Xưa có chàng Narcisse

xinh đẹp vô cùng

làm ngất ngây trái tim bao thiếu nữ

nhưng trái tim chàng

vẫn lạnh như băng.

Nhưng một hôm

Nhìn bóng mình trên dòng suối

chàng đã yêu

đã yêu chiếc bóng của mình

Hỡi Narcisse

hỡi chàng trai thích soi bóng mình trên mặt nước

làm thế nào ngươi gặp được Tình yêu

nếu chỉ có thể yêu bóng mình say đắm ?

Ôi, đau đớn thay cho Narcisse

cho những ai

chỉ yêu chiếc bóng của mình



Nhưng xin đừng ai xót thương chàng

vì – trên dòng sông cuộc đời

ai là kẻ

chưa từng yêu bóng mình

như Narcisse ?




ĐỖ TƯ NGHĨA




LES CHOSES SIMPLES



Les feuilles vertes jauniront

Les cheveux noirs blanchiront

Les lèvres rouges pâliront

Les fleurs fraîches s’évanouiront

Voilà des choses simples !



Les yeux bleus perdront leur éclat

Les lèvres suaves n’auront plus leur parfum

La jeunesse passera

Le cœur se refroidira

Voilà des choses simples !



Les montagnes s’effondreront en poussières rouges

Les mers deviendront des déserts

Le bonheur sera brisé dans la souffrance

L‘amour fondra en larmes

Et finalement

La vie humaine s’anéantira avec la mort

Voilà des choses simples !



Mais pourquoi

pourquoi tant de gens

moi-même compris

se lamentent-ils toujours

de ces choses simples ?



Traduction de THÂN TRỌNG SƠN



Nhng điu bình thường



Lá cây xanh sẽ vàng

Mái tóc xanh sẽ bạc

Nét hồng rồi sẽ phai

Hoa tươi rồi sẽ héo

Ôi, những điều bình thường !



Mắt biếc rồi sẽ mờ

Môi thơm rồi sẽ úa

Tuổi trẻ rồi qua đi

Trái tim rồi sẽ lạnh

Ôi, những điều bình thường !



Núi sẽ thành bụi đỏ

Biển sẽ thành bãi hoang

Hạnh phúc sẽ vỡ tan trong khổ đau

Tình yêu sẽ chảy tan thành giọt lệ

Và sau cùng

đời người nát tan nơi cái chết

Ôi, những điều bình thường !



Nhưng tại sao

người ta

và tôi nữa –

vẫn cứ mãi khóc than

vì những điều bình thường ?




ĐỖ TƯ NGHĨA




LE SOURIRE QUE TU AS LAISSÉ






On s’est rencontré comme dans les contes de fées

j’ai déjà vieilli mais tu es en toute maturité

l’amour ressemble à un fil soyeux blanc

comment peut-il attacher le soleil couchant ?



On s’est séparé comme des bêtes de leurs troupeaux égarées

je reste seul, poursuivant mes jours d’un isolé

ô temps, une fois les filets de lumière jaunis

comment peut-on rajeunir une vie ?




Comme on cherche un oiseau je t’ai cherchée

Avec la seule allumette restante, le soir rentré,

en tâchant d’ éclairer les pertes au fond du cœur

je vois encore le sourire que tu as laissé.



Je t’ai cherchée même avec des efforts vains

pour ne plus rien regretter dans la vie

si on me permettait encore un acte de folie

tout attendri,... je prendrais ta main.




Traduction de THÂN TRỌNG SƠN



NỤ CƯỜI EM BỎ QUÊN



Ta gặp nhau như chuyện đời xưa

anh lỡ già mà em vẫn chưa thu

tình yêu như sợi tơ màu trắng

làm sao buộc lấy tà huy.



Ta xa nhau như thú lạc bầy

anh một mình trọn kiếp mồ côi

thời gian ôi vàng chi sợi nắng

làm sao xanh lại một đời




Anh đi tìm em như đi tìm chim

dù đêm về còn một que diêm

đốt tâm can soi điều mất mát

vẫn thấy nụ cười em lỡ bỏ quên



Anh tìm em như ngậm ngãi tìm trầm

để đời ta không còn tiếc nuối

nếu cho anh thêm một lần rồ dại

anh sẽ ngậm ngùi...cầm lấy tay em




PHAN NHƯ


LES MARIAGES DES PRINCESSES.



Le mariage d’une princesse était appelé “ hạ giá ” ( descente ) car son mari – appelé “ phò mã ”, était d’un rang inférieur au sien. Phò mã désignait , au sens propre, le cheval qui tirait la voiture supplémentaire. Auparavant, à chaque sortie, le roi se servait d’une voiture appelée long đinh xa ( char royal ) tirée par quatre chevaux. Le char royal avait comme escorte deux autres voitures appelées phò mã. Ensuite le mot “ phò mã était employé pour désigner la personne au service du roi lors des voyages. Alors, après s’être marié avec une princesse, il serait nommé phò mã đô úy, titre d’un mandarin militaire du troisième degré, dépourvu d’une fonction concrète dans la cour. Il n’avait qu’à accompagner le roi, et à participer aux audiences et aux festins royaux. Si la princesse mourait avant lui, il pourrait obtenir une fonction quelconque grâce à son grade de troisième degré.


Il était vraiment difficile de marier toutes les princesses, tant elles étaient nombreuses ! La première difficulté était qu’il fallait choisir un fils de mandarin, civil ou militaire, or ces jeunes hommes n’étaient pas prêts à se marier volontairement avec des princesses. Ils n’avaient le droit ni de choisir ni de regarder le visage de leur future épouse, et qu’est-ce qui leur arriverait s’ils tombaient sur une princesse d’un âge avancé et d’une beauté modeste ! Quelle honte ! La deuxième difficulté pour les princesses c’était qu’elles vieilliraient vite si elles n ’arrivaient pas à trouver un mari, pour la simple raison qu’il fallait attendre au moins trois ans en cas de grand deuil, ce qui se passait fréquemment dans la cour. Si pendant une année, deux grands deuils survenaient, ce serait une malchance pour elles. La troisième difficulté résidait dans l’impossibilité d’organiser plusieurs mariages dans une même année en raison des dépenses considérables que le budget national ne pouvait pas supporter.


Les rites d’un mariage d’une princesse ne différaient pas trop de ceux des mariages des hommes du peuple, la différence se soulignait pourtant dans le déroulement des cérémonies. Le choix du futur époux commença par un édit du roi demandant l’enregistrement des princesses âgées de treize ans et au-dessus, réalisé par les palais royaux. Cette liste fut envoyée au Ministère de l’Intérieur et au Ministère de la Guerre. À la réception de cette liste, ces deux ministères dressèrent une liste des fils de mandarins – chacun avec son CV détaillé - destinée à la sélection du roi. Le choix fait, le roi nomma un prince du sang comme célébrant du mariage, aidé par un adjoint. Ces deux hommes devraient naturellement être d’un âge avancé et d’une nombreuse progéniture avec des épouses encore vivantes. En se basant sur les CV des prétendants, ils en choisirent un dont l’âge était conforme à celui d’une certaine princesse et présentèrent la proposition au roi. Si le roi était d’accord, il encerclerait à l’encre le nom du jeune homme choisi.


Voilà le premier pas accompli. Le roi donna ensuite au futur gendre une grosse somme d’argent – environ 3000 ligatures – pour l’achat d’une résidence. Il donna encore une autre somme d’argent destinée à l’achat, pour le gendre, des vêtements, pour la princesse, d’une coiffure à cinq phénix d’or, sertie de perles ou de corail, d’un costume brodé d’un phénix et d’autres parures. Le futur mari devrait tout acheter pour l’ameublement de sa résidence à l’usage de la princesse. Les préparatifs accomplis, le futur mari de la princesse avertit le ministère des Rites qui informa ensuite le roi. Celui-ci ordonna à l’Observatoire Astronomique de choisir un jour faste, informa, lors d’une audience royale, le célébrant du mariage et son adjoint de la préparation de la cérémonie, et les chargea d’en avertir la famille du futur gendre. Les deux partis se mirent d’accord sur l’heure et la date de la cérémonie. Au jour fixé, la famille du marié dressa un autel pour recevoir les représentants du roi qui, en costumes de cérémonie, escortés par des soldats tenant des étendards et des drapeaux, se tenaient debout à gauche de l’autel, le côté droit étant réservé à la famille du marié. Les messagers du roi annoncèrent officiellement la date de la cérémonie puis se retirèrent à la cour attendre des ordres. Le lendemain, accompagné de quelques notables de sa famille, le père du marié se rendit au palais royal, fit cinq prostrations devant le roi en signe de respect. Le même geste fut effectué par la mère du marié à l’égard de la reine-mère, la première épouse du roi et la propre mère de la princesse. L’Observatoire Astronomique fut ordonné de choisir encore trois autres jours fastes, et après l’accord du roi, les six cérémonies suivantes seraient organisées, à raison de deux cérémonies par jour :


Le premier jour : les cérémonies de nạp thái et vn danh.( engagement )

Le deuxième jour : les cérémonies de nạp trưng et nạp các.( présentation des offrandes )

Le troisième jour : les cérémonies de điện nhạn et thân nghinh.( procession matrimoniale )


Les offrandes pour la princesse étaient aussi décidées :

Pour la cérémonie de nạp thái : 1 buffle, 1 porc, 2 jarrons d’alcool, 1 plateau d’arec et de bétel, 2 rouleaux de brocart, 10 rouleaux de soie, 4 lingots d’or, 2 enfilades de perles, 16 lingots d’argent.

Pour la cérémonie de nạp trưng : 2 bœufs, 1 buffle, 2 porcs, 1 plateau d’arec et de bétel, 2 jarrons d’alcool, 2 rouleaux de soie unie, 6 lingots d’or, 20 lingots d’argent.

Pour la cérémonie điện nhạn, les coutumes chinoises exigeaient comme gage l’offrande d’une paire de nhạn ( oie sauvage ), mais chez nous, cette espèce d’oiseau n’existant pas, on les remplaça par des oies. Et, de plus : une boîte de fils à cinq couleurs, 100 ligatures, symbole de la richesse, du bonheur et de la longévité.


À la cour royale, la veille du jour de la cérémonie, le roi ordonna à un mandarin du haut degré d’ apporter des objets de culte aux mausolées en guise d’annonce aux rois défunts du mariage de la princesse. La princesse, accompagnée de quelques femmes mandarins, rendit visite aux tombes des ancêtres et alla se prosterner devant la reine-mère et la première épouse du roi. Le jour de la procession matrimoniale, le marié entra au palais royal avec des offrandes, fit cinq prostrations devant le roi pour lui demander d’accueillir la mariée. Le roi reçut des offrandes, donna quelques recommandations au marié avant que celui-ci fût introduit dans une salle voilée de rideaux pour un moment d’attente.


Après s’être préparée, la princesse suivit une femme mandarin et certaines dames au palais royal où le roi lui fit les recommandations concernant les devoirs d’une fille envers sa belle-famille et lui donna du vin impérial. La princesse fit cinq prostrations puis se retira auprès de sa propre mère. La mère fit encore les mêmes recommandations, la princesse se prosterna cinq fois en signe de la reconnaissance filiale. À l’extérieur de la porte du palais attendait déjà un cortège englobant le cérémonial, son adjoint et leurs épouses; un mandarin du haut degré et sa femme; six femmes mandarins, quelques dizaines de servantes, des porteurs de palanquin avec drapeaux et parasols, deux enfants portant des lanternes , deux enfants portant des oies, deux enfants portant des feuilles de cycas.


À ce moment, le marié sortit de la salle, vint près du palanquin, souleva les rideaux, invita la princesse à monter, puis marcha en avant. La Porte du Sud passée, il monta à cheval puis se joignit avec la procession. Arrivés à la maison du marié, la princesse fut introduite dans une chambre de l’ouest, son mari, dans une chambre de l’est. Les rites qui suivirent ressemblaient à ceux des familles des hommes du peuple. Neuf jours après, la princesse et son mari rentrèrent à la cour royale pour faire des prostrations au roi qui donnerait au mari de la princesse un costume de cérémonie d’un mandarin de troisième degré, 4 rouleaux de brocart et deux harnais. À partir de ce moment, il servait le roi lors des audiences ou des sorties tout en n’occupant aucune fonction dans la cour.


THÂN TRỌNG SƠN

Traduit du vietnamien.


Texte original :

Truyện kể về các Vương phi Hoàng hậu nhà Nguyễn – THI LONG