Affichage des articles dont le libellé est BẰNG HỮU. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est BẰNG HỮU. Afficher tous les articles

vendredi 16 septembre 2022

AMANDA GORMAN, nhà thơ trẻ đọc thơ trong lễ nhậm chức tổng thống.

 AMANDA GORMAN, nhà thơ trẻ đọc thơ trong lễ nhậm chức tổng



Tổng thống thứ 46 của Hoa Kỳ, Joe Biden, chính thức nhậm chức vào ngày 20/1/2021, và vào ngày long trọng này, một nhà thơ mới 22 tuổi , cô Amanda Gorman, có vinh dự đọc bài thơ của chính mình. Sự kiện này không phải là ngoại lệ vì trước cô đã có 5 nhà thơ làm nhưng cô là người trẻ nhất:

  • Năm 1961, Robert Frost đọc trong lễ nhậm chức của Tổng Thống John F. Kennedy.
  • Năm 1993, Maya Angelou đọc trong lễ nhậm chức của Tổng Thống Bill Clinton.
  • Năm 1997, Miller William đọc trong lễ nhậm chức của Tổng Thống Bill Clinton nhiệm kỳ 2.
  • Năm 2009, Elizabeth Alexander đọc trong lễ nhậm chức của Tổng Thống Barack Obama.
  • Năm 2013, Richard Blanco đọc trong lễ nhậm chức của Tổng Thống Barack Obama nhiệm kỳ 2



  • Đứng tại bậc thềm của Điện Capitol, với chiếc băng đô màu đỏ và áo khoác màu vàng, tay đeo chiếc nhẫn có hình con chim trong lồng gợi đến nhà thơ Maya Angelou với tác phẩm “ Tôi biết vì sao chim trong lồng hót , I know why the caged bird sings “. ( chiếc nhẫn là quà tặng của Oprah Winfrey, MC và diễn viên nổi tiếng ),  Amanda Gorman đã chinh phục toàn thể người nghe tại 

chỗ cũng như những người theo dõi qua truyền hình. Cô nói to, rõ ràng, đĩnh đạc,  kèm theo ngôn ngữ hình thể và không ai biết rằng cách đây vài năm, cô còn nói ngọng. Cho đến lúc trở thành sinh viên đại học, cô không phát âm được âm “R”. Từ nhỏ cô bị chứng rối loạn cảm nhận âm thanh ( auditory processing disorder ) và cô kiên trì tập luyện để vượt qua khiếm khuyết này bằng cách  nghe đi nghe lại bài hát trong vở nhạc kịch Hamington “ Aaron Burr “ , bài hát đầy chữ R. 


Đây không phải là lần đầu Amanda Gorman đọc thơ trong một dịp long trọng như thế, năm 2018 cô đã đọc bài thơ Making Mountains as we run trong lễ nhậm chức hiệu trưởng thứ 29 Đại học Harvard của Giáo sư Lawrence S. Bacon. 


Sinh ra và lớn lên tại Los Angeles, Amanda Gorman được mẹ là giáo viên tiếng Anh khuyến khích đọc và viết từ nhỏ. Học năm cuối bậc trung học, cô được học bổng đại học của tổ chức  Milken Family Foundation để theo học tại Đại học Harvard danh tiếng. Cô tốt nghiệp  ngành  xã  hội  học  loại  xuất  sắc  ( cum laude ) năm 2020 , trong thời gian này cô được học bổng sang Madrid, Tây Ban Nha, học trong một học kỳ .   Cô trở thành người đầu tiên đoạt được Giải nhà thơ trẻ quốc gia  ( National Youth Poet Laureate ) vào năm 2017. Cô sớm tham gia nhiều hoạt động cộng đồng tập trung vào các vấn đề áp bức, nữ quyền, chủng tộc, biến đổi khí hậu. Cô xuất bản tập thơ đầu tiên vào năm 2015 ( The One for Whom Food Is Not Enough ).

Năm 2017, cô đã đọc thơ của mình trên đài truyền hình MTV . Thư viện và Bảo tàng Morgan đã mua bài thơ “ In this Place ( An American Lyric ) “ và trưng bày vào năm 2018 bên cạnh các tác phẩm của các nhà thơ khác. Cô đã viết bài ca ngợi các vận động viên da đen cho Nike và có hợp đồng với Viking Children Books để viết sách cho trẻ em. Hoạt động của cô mở rộng nhiều lĩnh vực, cô sáng lập tổ chức phi lợi nhuận One Pen One Page, là tổ chức điều hành chương trình lãnh đạo và viết văn cho giới trẻ. 


Cô đã từng tuyên bố sẽ tranh cử tổng thống vào năm 2036 và nhiều lần lặp lại nguyện vọng này. Sau khi nghe cô đọc thơ trong lễ nhậm chức của tổng thống Biden, bà Hillary Clinton và cả bà Michelle Obama  cho biết họ ủng hộ nguyện vọng này. Liên tiếp nhiều năm, các tạp chí danh tiếng đều có bài viết về cô, đăng ảnh lên trang bìa. ( Time, số tháng 2/2021; Vogue, số tháng 5/2021 ). 


Chính phu nhân tổng thống vừa đắc cử Jill Biden đã đề nghị cô đọc thơ cho lễ nhậm chức. Cô nhận thông báo được chọn đọc vào ngày 30/12/2020 và được yêu cầu viết bài thơ phù hợp với chủ đề chung của lễ nhậm chức là “ Nước Mỹ đoàn kết “, không có hướng dẫn nào khác. Mỗi ngày cô viết vài dòng, viết được nửa bài thì xảy ra vụ bạo loạn ủng hộ Trump tại điện Capitol vào ngày 6/1/2021. Trong không khí đó cô hoàn tất bài thơ ngay trong đêm. Cô đã nhắc đến sự kiện này trong bài thơ: “ … a force that would shatter our nation rather than share it.” ( một quyền lực có thể làm tan vỡ đất nước chúng ta thay vì chia sẻ nó).


Bài thơ gồm 7 khổ, 723 từ, viết theo thể thơ tự do ( free verse poetry ), toàn bài cũng có nhịp điệu ( rythme ) và vần điệu ( rhymes), ( shade và wade,) When day comes, we ask ourselves where can we find light in this never ending shade?The loss we carry, a sea we must wade/. và beast và peace : We braved the belly of the beast.We've  learned that quiet  isn't always peace //  dễ nhận thấy nếu đọc thành tiếng thay vì đọc thầm. Dịch bài thơ này sẽ khó chuyển hết những thủ pháp về điệp thanh ( alliteration) : somehow we’ve weathered and witnessed,       braved…belly…beast / norms and notions ; đảo ngữ ( inversion ): .. in this truth/ in this faith/ we trust ;  gối câu ( enjambement): … but that doesn’t mean we are/ striving to forge a union with purpose; lặp lại ( repetition): That even as we grieved, we grew/ That even as we hurt, we hoped/  That even as we tired, we tried/; ám chỉ ( allusion): … everyone shall sit under their own/ vine and fig tree/ and no one shall make them afraid. Câu này mượn từ Kinh thánh: But everyone shall sit under his vine and under his fig tree/ And no one shall make them afraid/ For the mouth of the Lord of hosts has spoken. 

Cũng có lúc cô khéo léo sử dụng từ đồng âm khác nghĩa: “ we lay down our arms/ so we can reach out our arms/ to one another “ ( arms 1 nghĩa là vũ khí, arms 2 là cánh tay ).


 Để chuẩn bị viết bài thơ The hill we climb, cô đã tìm đọc lại diễn văn của những người nổi tiếng như Frederick Douglass, Winston Churchill, Abraham Lincoln, Martin Luther King Jr, và nghiên cứu cả bài của những người đã đọc thơ trước cô, đặc biệt là Maya Angelou. Một tuần trước lễ nhậm chức, cô nói với Ron Charles, nhà phê bình sách của tờ The Washington Post: “ Tôi hy vọng là bài thơ của tôi sẽ đại diện cho một khoảnh khắc đoàn kết cho đất nước chúng ta” và  “ với những lời nói của mình, tôi sẽ có thể nói tới một chương mới, một kỷ nguyên mới cho dân tộc chúng ta”.


Bài thơ đọc đúng lúc, đúng chỗ, đã được đánh giá cao không những cho dịp  đặc biệt này mà nó sẽ tồn tại lâu dài.

Có người gọi nó là điểm sáng trong buổi lễ và hoan nghênh ý tưởng của Gorman như là một thông điệp của sự đoàn kết, phản ảnh quá khứ và hy vọng ở tương lai.

Không lâu sau lễ đăng quan, nhà xuất bản Penguin Young Readers thông báo việc ấn hành 150 000 bản bìa cứng in bài thơ vào mùa xuân 2021, bắt đầu từ tháng 4. Bài thơ cũng được in vào tuyển tập cùng với Change Sings do nhà Viking và trở thành 2 cuốn bán chạy nhất trên Amazone.


Những thành công trong sự nghiệp văn chương, kèm thêm là những hưởng ứng trong các hoạt động xã hội đối với cô gái sinh năm 1998 này khiến chúng ta vững lòng tin ở những bước tiến vững chắc của cô về sau này. Ai dám bảo là ý tưởng tranh cử tổng thống vào năm 2036 là hão huyền.










THE HILL WE CLIMB 


When day comes, we ask ourselves where can we find light in this never ending shade? The loss we carry, a sea we must wade. We braved the belly of the beast.


We've  learned that quiet  isn't always peace and the norms and notions of what just is, isn't always justice. And yet the dawn is hours before we knew it,  somehow we do it, somehow we’ve weathered and witnessed  a nation that isn't broken but simply unfinished.


We, the   successors of a   country and a time, where  a  skinny black girl   descended from  slaves  and raised  by a single mother can dream of becoming president, only to find herself reciting for one.


And yes, we are far from polished, far from pristine, but that doesn't mean we are   striving to form a union that is perfect. We are striving to forge our union  with purpose, to compose a country  committed to all cultures, colors, characters, and conditions of man. And so we lift our gazes not to what stands between us but what stands  before us. We close the divide because we know to put our future first. We must first  put our differences aside.


We lay down our arms so we can reach out our arms to one  another . We seek harm to none and harmony for all. Let the globe, if nothing else, say this is true, that even as we grieved, we grew. That even as we hurt, we hoped.


That even as we tired, we tried. That we’ll forever  be tied together, victorious, not because we will never again know defeat, but because we will never again sow division.


Scripture tells us to envision that everyone shall sit under their own vine and fig tree, and no one shall make them afraid.


If we’re to live up to our own time, then victory won't  lighten the blade but in all the bridges we've made, that is the promise to glade, the hill we climb if only we dare, it's because  being  American  is more than a pride we inherit. It's the past we stepped into and how we repair it.


We've seen a force  that would shatter our nation rather than share  it, would destroy our country if it meant  delaying democracy.


And this effort very nearly succeeded. But while democracy can be  periodically delayed, it can never be permanently defeated. In this truth, in this faith, we trust. For while we have our eyes on the future, history has its eyes on us.


This is the era of just redemption. We feared  -- at its deception. We did not feel prepared to be the heirs of such a terrifying hour, but within it we found the power to author a new chapter, to offer hope and laughter to ourselves.


So, while  once we asked, “how  could we  possibly prevail over catastrophe?”, now we assert, “how could catastrophe possibly prevail over us?” We will not march back to what was, but move to what shall be, a country that is  bruised but whole, benevolent  but bold, fierce and free. We will not be turned around or   interrupted by intimidation.


Because we know our inaction and   inertia will be the  inheritance of the next generation. Our  blunders become their burdens . But one  thing is certain. If we   merge mercy with  might  and   might with right, then love becomes  our  legacy and change, our children's  birth right.


So let us leave  behind a country better than one we were left with, every breath from my bronze pounded chest, we will raise this wounded world into a  wondrous one. We will rise through the gold-limbed hills in the west, we will rise from the windswept northeast  where our  forefathers first  realized  revolution. We will rise from the lake-rimmed cities of the  Midwestern states.


We will rise from the sun-baked South. We will rebuild, reconcile, and recover, in every  known nook of our nation, in  every corner  called our country, our  people diverse and beautiful, will  emerge battered and beautiful.


When day comes, we step out of the shade, aflame and unafraid.


The new dawn blooms  as we free it for there is always  light if only we're   brave enough to see it, if only we're  brave  enough to be it.



AMANDA GORMAN


( Có thể nghe bản ghi âm  toàn bài thơ được đọc ở đây : )


https://youtu.be/Wz4YuEvJ3y4



Bản dịch


NGỌN ĐỒI TA LEO 



Khi ngày đến ta phân vân tự hỏi 

Tìm đâu ra ánh sáng trong bóng tối mịt mùng 

Mất mát ta cưu mang 

Biển sâu ta phải lội 

Trong bụng quái vật hiên ngang chống chọi.


Chúng ta học được rằng lặng yên không cứ là hoà bình

Và chuẩn mực lẫn khái niệm về những điều hiện hữu đâu phải luôn là công lý.

Thế mà bình minh đã xuất hiện trước khi ta nhận ra

Bằng cách nào đó ta đã nhận ra 

Bằng cách nào đó chúng ta đã vượt sóng gió 

Và chứng kiến một quốc gia không tan rã 

mà chỉ là chưa vẹn toàn.

Chúng ta,  người thừa kế một quốc gia vào thời điểm có đứa bé gái gầy gò da đen, tổ tiên là nô lệ, lớn nhờ mẹ đơn thân, mơ làm tổng thống, chỉ để thấy mình đọc thơ cho một tổng thống nghe.


Và vâng, chúng ta không bóng lộn, cũng chẳng nguyên trinh, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta muốn dựng lên một khối hoàn hảo. Chúng ta đang cố tạo nên khối cùng chủ đích, để có một đất nước cam kết bảo vệ mọi văn hoá, mọi màu da, mọi cá tính và mọi thân phận con người. Và vì vậy chúng ta nâng tầm nhìn không phải chỉ để thấy những gì đứng giữa chúng ta mà là những gì đứng ngay phía trước. Khép lại khoảng cách vì ta biết đặt tương lai mình trên hết. Trước hết chúng ta phải gác qua một bên mọi dị biệt của mình.


Chúng ta hạ vũ khí xuống để cánh tay vươn đến nhau. Chúng ta không tìm cách hãm hại ai mà chỉ muốn tìm sự hài hoà với mọi người. Hãy để trái đất, chứ không ai khác, khẳng định điều này, rằng ngay cả khi đau buồn, ta lớn lên, rằng ngay cả khi bị tổn thương, ta đã hy vọng.


Rằng ngay cả khi mỏi mệt, ta đã cố gắng, rằng chúng ta sẽ mãi mãi gắn bó với nhau đi đến thắng lợi, chẳng phải vì chúng ta không bao giờ nếm mùi thất bại, mà bởi lẽ chúng ta sẽ không thêm lần nữa gieo rắc rẽ chia.


Kinh thánh cho chúng ta hình dung rằng nếu mọi người sẽ ngồi dưới gốc nho và cây vả của mình thì không ai làm cho họ sợ hãi.


Nếu chúng ta sống ngang tầm thời đại thì chiến thắng không nằm ở lưỡi dao, mà ở những chiếc cầu chúng ta xây được, đó là lời hứa sẽ vượt qua, ngọn đồi ta leo, chỉ cần chúng ta dám, vì làm người Mỹ không chỉ là niềm tự hào chúng ta thừa hưởng. Mà đó là quá khứ chúng ta bước vào và chúng ta sẽ sửa chữa nó ra sao.


Chúng ta đã thấy một quyền lực có thể làm tan vỡ đất nước này, thay vì chia sẻ nó, có thể hủy diệt đất nước này nếu điều đó đồng nghĩa với việc trì hoãn nền dân chủ.


Và nỗ lực này gần như đã thành công. Tuy nhiên khi dân chủ có thể định kỳ bị trì hoãn, nó sẽ không bao giờ bị đánh bại mãi mãi. Vào sự thật này, vào niềm tin này, chúng ta kỳ vọng. Và trong khi chúng ta hướng về tương lai, lịch sử vẫn dõi theo mong ngóng.


Đây là kỷ nguyên của cứu chuộc công bằng. Chúng ta sợ hãi khi nó bắt đầu. Chúng ta chưa cảm thấy sẵn sàng trở thành người kế thừa của một giờ phút kinh hoàng như vậy, nhưng khi ở trong nó rồi, chúng ta đã tìm thấy sức mạnh để viết ra một trang sử mới, mang lại hy vọng và tiếng cười cho chính chúng ta.


Cho nên khi ta từng hỏi: “ Làm thế nào vượt qua thảm họa?” thì bây giờ ta đã quả quyết: “ Thảm họa đánh bại ta sao được?” Chúng ta không lặp lại chuyện quá khứ, mà hướng đến chuyện trước mặt, một đất nước bị tàn phá nhưng nguyên vẹn, nhân từ nhưng táo bạo, khốc liệt và tự do. Chúng ta sẽ không sợ bị đẩy lùi, hay bị đe dọa mà phải bỏ dở dang.


Và chúng ta biết rằng bất động và ù lì của chúng ta sẽ là di sản cho thế hệ mai sau. Những sai lầm của chúng ta sẽ là gánh nặng cho chúng. Nhưng có một điều chắc chắn: nếu ta kết hợp lòng nhân từ với sức mạnh và sức mạnh với lẽ phải, thì tình thương yêu sẽ trở thành di sản và sự đổi thay trở thành quyền bẩm sinh của con cháu chúng ta.


Thế nên hãy để lại phía sau một đất nước tốt hơn lúc mà ta đã nhận về, mỗi hơi thở từ lồng ngực nâu đồng của tôi, chúng ta sẽ nâng thế giới bị tổn thương này thành một thế giới diệu kỳ. Chúng ta sẽ vươn lên từ những ngọn đồi óng vàng ở miền Tây, chúng ta sẽ đứng dậy từ miền Đông Bắc lộng gió, nơi tổ tiên chúng ta lần đầu tiên làm cách mạng. Chúng ta sẽ trỗi dậy từ những thành phố ven hồ của những tiểu bang vùng Trung Tây.


Chúng ta sẽ đứng dậy từ phương Nam rực nắng. Chúng ta sẽ tái thiết, sẽ hòa giải, sẽ phục hồi trong mọi ngóc ngách quen thuộc của đất nước chúng ta, mọi ngóc ngách mang tên đất nước chúng ta, những con người đa dạng  và xinh đẹp, sẽ bước ra mạnh mẽ, đẹp xinh trong bầm dập.


Khi ngày đến, chúng ta từ bóng tối bước ra, bừng cháy, chẳng hãi  hùng .


Bình minh chớm nở khi ta thở tia nắng ra vì chỉ có ánh sáng khi ta có đủ can đảm để nhận biết nó, chỉ khi ta đủ dũng khí để là ánh sáng.




THÂN TRỌNG SƠN 

dịch và giới thiệu 

( Tháng 9/2022 )

lundi 27 juillet 2015

THU PARIS

THU PARIS

Viết về một đề tài quen thuộc lúc nào cũng là một thách thức lớn, ngôn từ, hình ảnh, và ngay cả cảm xúc, làm sao tránh khỏi lặp lại, bước ra ngoài dấu chân những người đi trước? Mùa thu ư? Paris hay nơi nào khác, hẳn sẽ là thu sầu thu buồn, hẳn sẽ là sương thu, mưa thu, nắng thu, gió thu... Paul Verlaine và Jacques Prévert sừng sững trước mặt, Lưu Trọng Lư và Cung Trầm Tưởng thấp thoáng sau lưng...
Bài thơ ngắn, ba khổ mười hai câu, mở và kết như thế này:
Em có nghe Paris vào thu...
Đưa hồn ta...hướng về quê xưa!,
thì thôi hết rồi, đọc làm chi nữa mười câu kia!

Nhưng mà này, khoan đã, nói như thế có vội vàng quá không, có bất công, vô tình và tàn nhẫn với tác giả quá không?
Cứ bình tình đọc thêm câu nữa:

Lá xanh BỖNG chuyển màu vàng úa

Quy luật tự nhiên, cây cỏ đất trời, làm gì có thứ lá nào đang xanh bỗng chuyển màu vàng? Có chăng là cái tâm trạng của người lâu nay qua lại trên những con đường quen thuộc với hai hàng cây rợp lá hai bên, bất chợt ngước mắt nhìn lên và bàng hoàng thảng thốt, " ô hay thu đã đến rồi sao? ", tưởng là lá vẫn xanh như mọi ngày, sao chuyển màu từ lúc nào đấy nhỉ? Tâm hồn ta vẫn là tâm hồn ngày 

tháng cũ, mà vạn vật vẫn xoay chuyển từng giờ. Và người viết rủ rê người đọc nhìn thêm những chiếc lá thu ấy nữa:
Lá mỏng manh làm sao chịu nổi 
Cơn nóng lạnh chợt đến chợt đi

Thu Paris lá vàng phủ lối.

Lá hiển hiện trong ba câu ở cả ba khổ thơ, chừng đó là đủ! 




Nếu còn miên man hồi tưởng hay nghĩ tưởng thêm nữa, tác giả hãy nhặt lấy một chiếc lá vàng đem về ép trong trang sách, giữ chơi hay bỏ vào phong bì gởi về cho ai đó ở quê xưa, chứ khỏi cần bắt nó thêm một lần xuất hiện ( trong câu thơ thứ bảy ):
Lá đổi màu lung lay trước gió...
Dù chuyển màu hay đổi màu, thì lá cũng đã vàng, thu đã sang, ý đã trọn, lời đã ngấm, tình đã thắm, hương đã nồng!



Lá vàng phủ lối thu Paris không chỉ trong thoáng chốc mà trải dài trong không gian cả một ngày ( hay mọi ngày? ), với những hình ảnh tưởng là ước lệ nhưng thực ra là rất riêng:
Buổi sớm mai sương trời lạnh buốt
Chiều buông những tia nắng chợt hồng.

( Rất riêng vì nắng chiều không vàng vọt mà lại là nắng hồng!)




Khung cảnh hoàn toàn TĨNH LẶNG của trời thu Paris đó chợt bừng sống với hai thứ âm thanh lúc cuối ngày, vang lên như những nốt nhạc đối nghịch nhau: tiếng  bước chân âm thầm và khúc dương cầm thánh thót:
Tiếng chân người lạc giữa đêm khuya
Dương cầm ai... vang khúc tình tội
( Ôi chao, hai chữ "tình tội" xuất thần! )


Cảnh ấy, tình ấy, mà không " hướng về quê xưa " mới là lạ!

Tôi không biết tác giả đã sống tại Pháp bao lâu rồi, nhưng qua bài thơ ngắn này, tôi hình dung ra một cô gái, vẫn rất Huế trong một xã hội với nếp sống, nếp nghĩ khác hẳn quê nhà.
Cám ơn bạn Phan Như đã chuyển cho đọc tâm tình người học trò cũ.



TTS.



THU PARIS




Em có nghe Paris vào thu
Lá xanh bỗng chuyển màu vàng úa
Buổi sớm mai sương trời lạnh buốt
Chiều buông những tia nắng chợt hồng




Lá mỏng manh làm sao chịu nổi
Cơn nóng lạnh chợt đến chợt đi
Lá đổi màu lung lay trước gió
Lắng đọng lại trên những vần thơ.



Thu Paris lá vàng phủ lối
Tiếng chân người lạc giữa đêm khuya
Dương cầm ai... vang khúc tình tội
Đưa hồn ta... hướng về quê xưa !

TUYẾT HẰNG MARIN
( 10/06/15 )

jeudi 29 septembre 2011

NGHE QUỐC VĨNH HÁT NHẠC TRỊNH

Mời nghe Quốc Vĩnh hát nhạc Trịnh ( pps do BY thực hiện ) :






mardi 9 août 2011

DANS L'AU-DELÀ SERAIENT-ILS DEVENUS AMIS ?




Il y a une quinzaine de jours, le professeur Thân Trong Son m’a fait cadeau d’un exemplaire de sa revue Aspirations, bien présentée et au contenu très riche. En constatant que le prochain numéro aura pour sujet « Été et Trinh Công Son », je suis tentée de prendre la plume, même si je ne suis pas spécialiste dans ce domaine. Permettez-moi toutefois de ne pas écrire sur la vie ou la carrière de feu ce compositeur de talent, mais sur une personne qui, pendant les dernières années de sa vie, s’est attachée silencieusement à ses chansons. Ne vous empressez pas de penser à une chanteuse ou à une muse, car celle que je vais présenter ici semble être ignorée de la plupart des lecteurs vietnamiens. Je dis bien « la plupart » et non « la totalité » car, pour la communauté des Vietnamiens francophones et amoureux de Trinh Công Son, ce nom n’est plus inconnu depuis longtemps. Oui, il s’agit de Léon Remacle, celui qui a traduit près de soixante-dix chansons dudit compositeur en « langue de l’amour » (1). Français de nationalité, il était aussi enfant de Huê ; dans ses veines coulaient le sang impérial et le sang gaulois.

Il y a plus d’un demi siècle, dans la ville romantique de Dalat, le jeune français Louis-Gabriel Remacle (dont la mère aussi était Vietnamienne) rencontra la jeune huêenne Tôn Nu Thi Bach Hiêu, une des filles aimées de Tôn Thât Bich (un chef militaire sous le règne de Bao Dai), et se laissa séduire par sa beauté douce et discrète. Cette histoire d’amour au bord du lac Xuân Huong se concrétisa enfin par un beau mariage. Le couple eut douze enfants, Léon Remacle était le quatrième. Depuis tout petit, Léon fut éduqué selon les règles de civilité et les normes de comportement traditionnel d’une famille de lignée impériale, on lui fit suivre l’école française mais aussi apprendre la langue vietnamienne, le nôm et le chinois.

En 1971, à l’âge de 19 ans, Léon partit en France faire ses études universitaires et obtint son DUT d’informatique. Il travailla alors au Crédit Industriel et Commercial et fonda son foyer sur la commune d’Asnières-sur-Seine (en région parisienne). Résidant en France et marié à une Française, il ne se permit pas pour autant d’oublier ses origines. D’une part, il communiquait régulièrement en vietnamien avec sa mère, ses frères et sœurs et, de l’autre, il lisait la littérature vietnamienne et chinoise. Dans sa bibliothèque se côtoyaient Molière, Voltaire, Hugo… et Nguyên Du, Hàn Mac Tu, Hô Xuân Huong…


Amoureux de la poésie et de la musique, imprégné du lyrisme huêen, il s’était laissé charmer sans savoir depuis quand par les chansons de Trinh Công Son. Cette émotion, cet amour, il avait préféré, au lieu de les garder pour lui seul, les partager avec les Vietnamiens nés loin du pays et ne pouvant parler vietnamien ainsi qu’avec les étrangers intéressés par la culture vietnamienne. Chaque jour, hors de ses heures de travail et du temps réservé à sa famille, il s’attaquait à traduire en vers français des chansons de Trinh. La traduction poétique, communément connue comme un travail extrêmement ardu, était pour Léon Remacle plutôt un plaisir, une passion. Quel délice que de se plonger dans les deux cultures, d’écouter la terre maternelle tout en chantant la mélodie paternelle !

Si les chansons de Trinh Công Son sont très agréables à l’écoute, il n’est pas toujours évident d’en comprendre toutes les paroles, encore moins de les transposer d’une langue à l’autre. Très prudent et responsable vis-à-vis de ses traductions, Léon pouvait passer des heures, ne fût-ce que pour trouver un mot juste. Et, voulant s’assurer de la bonne interprétation des expressions utilisées par le compositeur, il s’est procuré de nombreux dictionnaires sino-vietnamien, sino-français pour la consultation croisée. Le répertoire de ses traductions commençait par « L’oiseau solitaire », « Chanson de la lune » et puis le nombre de chansons traduites augmentait chaque jour davantage : « Belle de jadis », « La larme de l’éternité », « Été blanc », « Pluie bienfaisante », « Formons une grande ronde », « Revoir mon ancienne école »... Cependant, il n’a créé ni un site ni un blog personnel et ne s’est non plus fait publier dans un recueil. Léon a choisi de confier toutes ses traductions à un célèbre site spécialisé sur Trinh Công Son (à savoir : http://www.tcs-home.org), espérant que celles-ci seraient accessibles au plus grand nombre d’amoureux de Trinh. Par l’intermédiaire de ce site, ses traductions sont en effet parvenues à un large public. Il y a des mères Viêtkiêu qui se retrouvent tout émues en recevant une traduction envoyée par leur enfant, il y a des enfants ignorants du pays de leurs ancêtres qui, en le lisant, ont envie de partir à la recherche de leurs origines. Beaucoup de Français qui écoutaient et aimaient les chansons de Trinh de par sa musique, sont d’autant plus impressionnés par cet auteur-compositeur maintenant qu’ils les ont comprises. Je me demande si la mélancolie huêenne et la saveur pure des bouffées de vent de mer de Nha Trang étaient pour quelque chose dans sa manière si touchante de traduire les chansons de Trinh.

Sa compétence en vietnamien était bien meilleure que celle de beaucoup de Vietnamiens, sa maîtrise du français aussi dépassait celle de nombreux Français. J’ai dû moi-même plus d’une fois faire appel à son aide, tantôt pour une question de vietnamien, parfois pour un problème de français. De ses amis et connaissances, personne n’a jamais remarqué qu’il se fît mousser ou se montrât prétentieux. Bien au contraire, il restait toujours modeste, disposé à apporter son concours à d’autres et, du coup, apprécié de tout le monde. Il témoignait une modération exemplaire lors des discussions, n’ayant jamais imposé son avis.

Hélas, à l’été 2007, une crise cardiaque ne lui permit pas de mener à terme son projet de traduire Trinh Công Son. Le nombre de chansons traduites s’est arrêté au chiffre 65 ; la dernière « Que dorme le soleil bien sage » était terminée le 12/06/2007, près de deux semaines avant son sommeil définitif. Son départ a laissé un regret infini à tous ses proches, collègues et amis, tout en constituant une grande perte pour les amoureux des chansons de Trinh Công Son dans la communauté francophone. En 2009, son fils aîné Guillaume Remacle est retourné au Vietnam pour enterrer une partie de ses cendres à Nha Trang, où il était né et avait vécu une partie de sa vie.

En plus de Trinh Công Son, Léon Remacle traduisit également d’autres poètes et compositeurs ; il avait surtout l’intention de retraduire Kim Vân Kiêu de Nguyên Du, n’étant pas vraiment satisfait des versions françaises existantes. Il avait réussi à collectionner presque toutes les versions françaises de Kiêu, plusieurs versions vietnamiennes et même une version en nôm avec des notes explicatives détaillées. Selon Jacqueline Remacle Tôn Nu Tuong Vân, la sœur aînée de Léon, son frère a débuté, et même avancé, une partie non négligeable du projet. Dommage qu’il n’ait jamais abouti !

Toute sa vie, il fut toujours fier de ses origines vietnamiennes. Il était retourné au pays maternel maintes fois avec sa famille, dont la dernière était lors du Têt du Chien en 2006 ; cela faisait alors cinq ans que Trinh Công Son nous avait quittés. De son vivant, Léon n’a jamais eu l’occasion de rencontrer ce célèbre compositeur mais qui sait si, dans l’au-delà, ils auront fait connaissance et seront devenus amis...

MINH PHƯƠNG

(Photo et informations fournies par la famille Remacle)

(1) En plus de Léon Remacle, d’autres aussi ont traduit et traduisent encore Trinh Công Son en français : Thanh Bach, Jean-Claude Renoux, Nguyên Tân Hung...

Pour votre plaisir de lecteur, une des traductions qu’a réalisée Léon Remacle le 14/03/2007 :

Hạ trắng

Gọi nắng

Trên vai em gầy

Đường xa áo bay

Nắng qua mắt buồn

Lòng hoa bướm say

Lối em đi về

Trời không có mây

Đường đi suốt mùa

Nắng lên thắp đầy

Gọi nắng

Cho cơn mê chiều

nhiều hoa trắng bay

Cho tay em dài

Gầy thêm nắng mai

Bước chân em về

Nào anh có hay

Gọi em cho nắng

Chết trên sông dài

Thôi xin ơn đời

Trong cơn mê này

Gọi mùa thu tới

Tôi đưa em về

Chân em bước nhẹ

Trời buồn gió cao

Đời xin có nhau

Dài cho mãi sau

Nắng không gọi sầu

Áo xưa dù nhàu

Cũng xin bạc đầu

Gọi mãi tên nhau

Gọi nắng

Cho tóc em cài

Loài hoa nắng rơi

Nắng đưa em về

Miền cao gió bay

Áo em bây giờ

Mờ xa nẻo mây

Gọi tên em mãi

Suốt cơn mê
này.

Eté blanc

J’appelle le soleil

Sur tes épaules amaigries,

Au loin sur la route flotte ton habit

Le soleil passe dans ton regard triste,

Fleurs et papillons sont enivrés

Dans le ciel sur ton chemin de retour

Les nuages sont partis

Toute la saison ta route

Est de soleil abondamment allumée

J’appelle le soleil

Pour qu’au soir

Vole une pluie de fleurs blanches dans ton sommeil

Pour qu’au soleil matinal

S’amincissent encore tes longs bras

Tu es revenue

Mais je n’ai pas entendu tes pas

Je t’appelle pour que sur le long fleuve

Se meure le soleil

Enfin je demande une grâce à la vie

Pendant que je suis endormi

Que l’automne soit appelé

Je t’ai raccompagnée

Tu marchais le pas léger

Haut dans le ciel triste le vent soufflait

Puissions-nous dans la vie être réunis

Et le rester très longtemps après

Le soleil ne dispose pas à la mélancolie

Même si les habits de jadis sont chiffonnés

Je voudrais que, nos cheveux blanchis,

Par notre nom nous ne cessions de nous appeler

J’appelle le soleil

Pour accrocher dans tes cheveux

La sorte de fleur tombée du soleil

Le soleil t’a emportée

Vers la haute région que les vents balayent

Ton habit à présent

S’est évanoui au loin là où les nuages vont

Sans cesse j’appelle ton nom

Tout au long de ce sommeil profond.


( Source : Revue ASPIRATIONS - Été /

( éd. THANH NIÊN - avril 2011 )



Ở cõi xa kia, hai người ấy có thành tri kỷ ?

Cách đây nửa tháng, tôi có được nhà giáo Thân Trọng Sơn gửi tặng “Khát vọng Mùa xuân”, tập san được in đẹp với nội dung đa dạng và phong phú. Bản thân không phải là một người chuyên về viết lách nhưng thấy chủ đề của số tới là “Khát vọng mùa hè và Trịnh Công Sơn”, tôi lại muốn tham gia một chút. Tuy nhiên tôi xin phép không viết về cuộc đời cũng như sự nghiệp của cố nhạc sĩ tài hoa này mà về một người trong những năm cuối đời đã âm thầm gắn bó với các bài hát của ông. Các bạn đừng vội nghĩ đến một ca sĩ hay một nàng thơ nào đó, người tôi muốn nhắc đến ở đây có lẽ xa lạ với phần đông độc giả Việt Nam. Tôi nói phần đông chứ không phải là tất cả, vì với cộng đồng người Việt nói tiếng Pháp và quan tâm đến nhạc Trịnh thì cái tên này dường như từ lâu đã không còn là một ẩn số. Vâng, ông là Léon Remacle, người đã chuyển ngữ gần bảy mươi bài hát của Trịnh Công Sơn sang “ngôn ngữ của tình yêu” (1). Mang quốc tịch Pháp nhưng ông cũng đồng thời là một người con của Huế, trong huyết quản của ông chảy một phần dòng máu cung đình, một phần dòng máu gô-loa.

Ngày ấy, cách đây hơn nửa thế kỉ, tại xứ sở Đà Lạt mộng mơ, chàng thanh niên Pháp Louis-Gabriel Remacle (cũng có mẹ là người Việt Nam) đã gặp và bị chinh phục bởi vẻ đẹp dịu dàng đằm thắm của cô gái Huế Tôn Nữ Thị Bạch Hiếu, một trong các ái nữ của lãnh binh Tôn Thất Bích. Chuyện tình bên hồ Xuân Hương đã kết thúc bằng một đám cưới đẹp và họ có với nhau mười hai người con, trong đó cậu bé Léon Remacle là con thứ tư. Từ nhỏ, Léon đã được dạy bảo theo các phép tắc truyền thống của một gia đình hoàng tộc, được theo học trường Tây nhưng cũng được dạy tiếng Việt, chữ Nôm, chữ Hán.

Năm 1971, khi Léon 19 tuổi, ông sang Pháp theo học ngành tin học và có bằng đại học công nghệ DUT informatique. Ra trường, ông vào làm cho Ngân hàng Kỹ nghệ và Thương mại Crédit Industriel et Commercial, lập gia đình và cư trú tại Asnières-sur-Seine (vùng Île- de- France). Mặc dù sống tại Pháp và cưới một người vợ Pháp, nhưng không vì thế mà ông cho phép mình quên tiếng Việt. Ông vẫn thường xuyên nói chuyện với mẹ và các anh chị em bằng tiếng Việt, đọc sách văn thơ tiếng Việt và tiếng Hán. Trên giá sách của ông, người ta thấy bên cạnh Molière, Voltaire, Hugo… là Nguyễn Du, Hàn Mặc Tử, Hồ Xuân Hương…

Yêu thích thơ, nhạc và ngấm trong mình cái chất trữ tình xứ Huế, không biết từ lúc nào ông đã cảm những bài hát của cố nhạc sĩ họ Trịnh. Cái cảm xúc ấy, tình yêu ấy ông đã không giữ cho riêng mình mà mong muốn chia sẻ với những người Việt nhưng sinh ra ở nước ngoài không nói được tiếng Việt và với cả những người nước ngoài quan tâm đến văn hoá Việt Nam. Hàng ngày, ngoài giờ làm việc và khoảng thời gian dành cho gia đình, ông bắt tay vào dịch những bài hát của Trịnh Công Sơn sang thơ tiếng Pháp. Dịch thơ là một công việc vô cùng khó khăn nhưng với Léon Remacle, nó là một thú vui, một niềm đam mê. Thật dễ chịu khi được đắm mình trong hai nền văn hoá, vừa nghe nỗi lòng đất mẹ vừa bay bổng lời quê cha.

Các bài hát của Trịnh Công Sơn nghe rất hay, song để hiểu từng từ và dịch thì không đơn giản chút nào. Bản thân Léon là người luôn cẩn trọng và rất có trách nhiệm với các bản dịch của mình. Ông có thể bỏ hàng giờ chỉ để tìm ra một từ chuẩn, và để đảm bảo không hiểu sai nghĩa câu từ của nhạc sĩ, ông còn đặt mua hàng loạt từ điển Hán Việt, Hán Pháp để tra cứu chéo. Bắt đầu là “Cánh chim cô đơn”, “Nguyệt ca” rồi số lượng bài dịch ngày một tăng dần: “Diễm xưa”, “Giọt lệ thiên thu”, “Hạ trắng”, “Mưa hồng”, “Nối vòng tay lớn”, “Về thăm mái trường xưa”... Tuy nhiên ông không lập một website hay blog riêng, cũng không cho xuất bản sách mà gửi cho một trang web nổi tiếng chuyên về Trịnh Công Sơn (http://www.tcs-home.org) với hy vọng những bản dịch của mình sẽ đến được với đông đảo người yêu nhạc Trịnh. Quả vậy, từ đây, những bản dịch của ông được nhiều người biết đến, có những bà mẹ xa quê được con gửi cho bản dịch của ông xúc động nghẹn ngào, có những người con chưa biết quê cha đất tổ đọc bản dịch của ông xong bỗng mong muốn tìm lại cội nguồn. Rất nhiều người Pháp trước đây nghe và yêu các bài hát của Trịnh Công Sơn vì nhạc điệu thì nay hiểu nội dung họ lại càng thêm ấn tượng về người nhạc sĩ này. Tôi tự hỏi phải chăng cái chất buồn man mác của xứ Huế và hương thơm trong lành của những làn gió biển Nha Trang đã giúp ông dịch những bài hát của Trịnh Công Sơn cảm xúc hơn, đi vào lòng người hơn.

Léon hiểu tiếng Việt còn hơn nhiều người Việt, hiểu tiếng Pháp cũng hơn nhiều người Pháp. Bản thân người viết bài này cũng đã hơn một lần nhờ đến sự giúp đỡ của ông, khi thì về tiếng Việt, khi thì về tiếng Pháp. Thế nhưng bạn bè và những người quen biết chưa bao giờ thấy ông khoe khoang, tự phụ. Trái lại, ông luôn khiêm tốn, tận tình chỉ bảo giúp đỡ mọi người nên ai ai cũng quí trọng. Ông cũng không bao giờ áp đặt ý kiến cá nhân, luôn ôn hoà trong tranh luận.

Thật đáng tiếc, một cơn đau tim quái ác mùa hè năm 2007 đã không cho ông dịch nốt số bài hát của Trịnh Công Sơn. Tổng những bài dịch đã dừng lại ở con số 65, “Xin mặt trời ngủ yên” là bài cuối cùng, được ông dịch vào ngày 12/06/2007, gần hai tuần trước khi ông yên nghỉ. Ông ra đi để lại niềm tiếc thương vô hạn cho vợ con, họ hàng, đồng nghiệp và bạn hữu xa gần, đồng thời cũng là một sự mất mất lớn lao đối với những người yêu nhạc Trịnh trong cộng đồng Pháp ngữ. Năm 2009, con trai cả của ông Guillaume Remacle đã trở lại Việt Nam, mang một phần tro của ông về chôn cất tại Nha Trang, nơi ông sinh ra và đã sống một phần cuộc đời.

Bên cạnh Trịnh Công Sơn, Léon Remacle còn dịch thơ và bài hát của nhiều tác giả khác nữa, đặc biệt ông có ý định dịch lại Truyện Kiều của Nguyễn Du, vì dường như chưa thật sự hài lòng với các bản dịch hiện có. Ông đã sưu tầm gần như đầy đủ các bản Kiều tiếng Pháp, tiếng Việt, cả bản chữ Nôm và những chú giải. Theo bà Jacqueline Remacle Tôn Nữ Tường Vân, chị cả của Léon, ông đã bắt tay vào thực hiện dự án này và cũng đã đi được một chặng đường đáng kể. Thật đáng tiếc là công việc đã chẳng bao giờ được kết thúc!

Cả cuộc đời, ông luôn tự hào về nguồn gốc Việt của mình và đã nhiều lần cùng gia đình về thăm quê mẹ, lần cuối là Tết Bính Tuất 2006 khi đó Trịnh Công Sơn đã mất được năm năm. Khi còn sống ông và người nhạc sĩ nổi tiếng này chưa có dịp gặp mặt, nhưng biết đâu ở cõi xa kia, họ đã gặp nhau và thành tri kỉ...

Minh Phương

(Hình ảnh và thông tin do gia đình Remacle cung cấp)

(1) Ngoài Léon Remacle, còn một số tên tuổi khác cũng đã và đang dịch Trịnh Công Sơn sang tiếng Pháp như: Thanh Bạch, Jean-Claude Renoux, Nguyễn Tấn Hưng...

Xin giới thiệu với các bạn một trong các bản dịch của Léon Remacle, được hoàn thành ngày 14/03/2007:

Hạ trắng

Gọi nắng

Trên vai em gầy

Đường xa áo bay

Nắng qua mắt buồn

Lòng hoa bướm say

Lối em đi về

Trời không có mây

Đường đi suốt mùa

Nắng lên thắp đầy

Gọi nắng

Cho cơn mê chiều

nhiều hoa trắng bay

Cho tay em dài

Gầy thêm nắng mai

Bước chân em về

Nào anh có hay

Gọi em cho nắng

Chết trên sông dài

Thôi xin ơn đời

Trong cơn mê này

Gọi mùa thu tới

Tôi đưa em về

Chân em bước nhẹ

Trời buồn gió cao

Đời xin có nhau

Dài cho mãi sau

Nắng không gọi sầu

Áo xưa dù nhàu

Cũng xin bạc đầu

Gọi mãi tên nhau

Gọi nắng

Cho tóc em cài

Loài hoa nắng rơi

Nắng đưa em về

Miền cao gió bay

Áo em bây giờ

Mờ xa nẻo mây

Gọi tên em mãi

Suốt cơn mê này.

Eté blanc

J’appelle le soleil

Sur tes épaules amaigries,

Au loin sur la route flotte ton habit

Le soleil passe dans ton regard triste,

Fleurs et papillons sont enivrés

Dans le ciel sur ton chemin de retour

Les nuages sont partis

Toute la saison ta route

Est de soleil abondamment allumée

J’appelle le soleil

Pour qu’au soir

Vole une pluie de fleurs blanches dans ton sommeil

Pour qu’au soleil matinal

S’amincissent encore tes longs bras

Tu es revenue

Mais je n’ai pas entendu tes pas

Je t’appelle pour que sur le long fleuve

Se meure le soleil

Enfin je demande une grâce à la vie

Pendant que je suis endormi

Que l’automne soit appelé

Je t’ai raccompagnée

Tu marchais le pas léger

Haut dans le ciel triste le vent soufflait

Puissions-nous dans la vie être réunis

Et le rester très longtemps après

Le soleil ne dispose pas à la mélancolie

Même si les habits de jadis sont chiffonnés

Je voudrais que, nos cheveux blanchis,

Par notre nom nous ne cessions de nous appeler

J’appelle le soleil

Pour accrocher dans tes cheveux

La sorte de fleur tombée du soleil

Le soleil t’a emportée

Vers la haute région que les vents balayent

Ton habit à présent

S’est évanoui au loin là où les nuages vont

Sans cesse j’appelle ton nom

Tout au long de ce sommeil profond.


Bản tiếng Việt đăng trên tập san KHÁT VỌNG MÙA HẠ, xuất bản tại Đà Lạt, tháng 4/2011 . Tác giả tự dịch sang tiếng Pháp.

( Bài đăng với sự đồng ý của tác giả. )