mardi 27 octobre 2015

BÀI CA MÙA THU





I.

Sẽ sớm chìm trong tối tăm giá buốt
Thôi giã từ ngày nắng hạ rộn ràng
Nghe đâu đây âm thanh buồn ảo não
Cành khô rơi trên sân gạch vọng vang.

Trong hồn tôi cả mùa đông trở lại
Giận, ghét, rung rinh, kinh khiếp, nhọc nhằn,
Như mặt trời trong ngục sâu địa cực
Trái tim tôi, một khối đỏ giá băng.

Tôi rùng mình nghe cành khô rơi rụng
Tiếng vọng đục khàn giàn giáo đang xây
Linh hồn tôi như ngọn tháp đổ sụp
Chịu bao đục phá dai dẳng bao ngày.

Chừng như nghe tiếng gõ đều đơn điệu
Đâu đây ai vội đóng nắp quan tài
Cho ai đấy? Hè qua rồi, thu tới
Tiếng huyền bí như điệu buồn chia tay.

II.

Tôi yêu mắt em long lanh màu biếc
Nhưng hôm nay chỉ cay đắng ngậm ngùi
Cả tình em, lẫn phòng khuê, góc lửa,
Đâu sánh bằng biển rực ánh dương soi.

Hãy yêu tôi với trái tim người mẹ
Cho dù tôi có độc ác, bạc tình,
Là chị hay người tình, cứ dịu dàng nhé
Như thu vàng hay sắc nắng lung linh.

Chẳng mấy chốc mộ sâu đang ngóng đợi
Gối chân em cho tôi tựa đầu lên
Mùa hạ nồng trôi qua đầy tiếc nuối
Phút giao mùa ngắm tia nắng vàng êm.


THÂN TRỌNG SƠN dịch.





CHANT D'AUTOMNE


I

Bientôt nous plongerons dans les froides ténèbres ;
Adieu, vive clarté de nos étés trop courts !
J'entends déjà tomber avec des chocs funèbres
Le bois retentissant sur le pavé des cours.

Tout l'hiver va rentrer dans mon être : colère,
Haine, frissons, horreur, labeur dur et forcé,
Et, comme le soleil dans son enfer polaire,
Mon coeur ne sera plus qu'un bloc rouge et glacé.

J'écoute en frémissant chaque bûche qui tombe ;
L'échafaud qu'on bâtit n'a pas d'écho plus sourd.
Mon esprit est pareil à la tour qui succombe
Sous les coups du bélier infatigable et lourd.

Il me semble, bercé par ce choc monotone,
Qu'on cloue en grande hâte un cercueil quelque part.
Pour qui ? - C'était hier l'été ; voici l'automne !
Ce bruit mystérieux sonne comme un départ.

II

J'aime de vos longs yeux la lumière verdâtre,
Douce beauté, mais tout aujourd'hui m'est amer,
Et rien, ni votre amour, ni le boudoir, ni l'âtre,
Ne me vaut le soleil rayonnant sur la mer.

Et pourtant aimez-moi, tendre coeur ! soyez mère,
Même pour un ingrat, même pour un méchant ;
Amante ou soeur, soyez la douceur éphémère
D'un glorieux automne ou d'un soleil couchant.

Courte tâche ! La tombe attend ; elle est avide !
Ah ! laissez-moi, mon front posé sur vos genoux,
Goûter, en regrettant l'été blanc et torride,
De l'arrière-saison le rayon jaune et doux !



CHARLES BAUDELAIRE.
( 1821 - 1867 )

dimanche 27 septembre 2015

QUỐC HỌC - KÝ ỨC RỜI













Ký ức rời, ký ức không liền mạch, nhớ bao nhiêu kể được bấy nhiêu. Chuyện ngày xưa, gom góp dăm ba điều, kể từ lúc tuổi mười lăm vô trường Quốc Học. Sau ba năm, thì cũng như tất cả bạn bè khác, với mảnh bằng kết thúc tuổi học trò, tôi rời trường với chút ít âu lo. Học gì đây? Tương lai nhiều lối mở. Trường dược, trường y? Con nhà nghèo đừng có với cao. Đường binh nghiệp? Uống thuốc liều cũng không dám bước vào! Thôi thì cứ theo nếp nhà mà chọn ngành sư phạm. Học bốn năm, rồi thêm bốn năm thaphương cầu thực. Hạnh phúc biết bao, lại trở về trường xưa. Lại trở về với những căn phòng quen thuộc cũ, nhưng không phải với vị trí ngước mắt nhìn lên, mà với tư thế người đứng ở bục giảng bên trên.


HỌP MẶT CỰU HỌC SINH QH tại SAIGON


Rất nhiều năm tôi đi dự họp mặt, cùng bạn bè đồng lứa đồng môn. Nhớ nhớ quên quên, ai mất ai còn, giữa Saigon sôi nổi nhớ về Huế trầm mặc. Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh. Nhớ về trường thì ai cũng giống nhau: cùng chia sẻ chung một niềm tự hào, trường của TÔI đó, trường của TA đó! Một hai ba năm, tôi còn nhớ rõ, ban đầu số cựu giáo sư đến dự không bao nhiêu, nhưng dần dần các thầy cô được mời ngày càng nhiều. Từ hàng ghế cựu học sinh, tôi nhìn lên phía trước.  Có những giáo sư thời tôi đi học. Và cũng có những đồng nghiệp cùng thời ( có vị còn ít tuổi hơn tôi ). Rồi có dịp, tôi tâm sự với một bạn trong ban liên lạc, tôi là diễn viên sắm hai vai: là cựu học sinh, và tôi cũng đã từng dạy ở trường, thời gian khá dài, bảy tám năm, giai đoạn bắc cầu giữa hai chế độ. Nói thế thôi, nhưng bất ngờ ngay năm sau đó, các bạn lại mời tôi về như một cựu giáo sư, trong buổi lễ, tôi được xướng danh và được tặng hoa: Thầy dạy tại trường từ 71 cho đến 78.


NGƯỜI TỪ TRANG SÁCH BƯỚC RA.


Cơ chi tôi được về với Huế. Đó là nhan đề bài viết của tôi, đã đăng trên đặc san Quốc Học mấy năm rồi ( chính xác là hai ngàn lẻ tám ). Bài nhắc đến những kỷ niệm ba năm đi học . Tam Nhị Nhất ban C ( sinh ngữ văn chương ), nhắc đến các thầy cô đáng kính, và các bạn cùng lớp thân thương. Tên các bạn, tôi đều viết tên thật, với mong ước biết đâu có bạn sẽ đọc, và lên tiếng phản hồi cho tôi được biết tin, vì mấy mươi năm qua tôi vẫn không quên, tuổi thanh xuân, một thời hoa mộng.
Rất bất ngờ tại nhà riêng, một buổi sáng, có cuộc gọi ( không biết của ai ): S đó phải không, bạn cũ đây, đoán được mới tài, mà có nhận ra giọng ai không đó? Thôi được rồi, chịu khó chờ, một lát nữa thôi, sẽ có Nhất C 1 Quốc Học ghé chơi, không còn là tóc thề mười tám mà bà lão bảy mươi! Tin được không, Cao Thu Cúc đây rồi! ( thật ra thì bạn xưng tên mới nhận biết ).
Thấy nhắc đến mình trong bài tôi viết, bạn đã bỏ công dò hỏi, số điện thoại và cả địa chỉ nhà, để từ Saigon lên tìm cho ra. Từ bữa đó, bạn học cũ trở thành bạn văn. Không còn chuyện học hành, nay bàn chuyện văn chương. Bạn giới thiệu cho tôi những nhà văn nhà thơ khắp bốn phương. Và khuyến khích tôi đọc rồi dịch dần để đó. Từng bài từng chương gom góp cho đủ bộ. Chờ cơ duyên in ấn phát hành chơi. Bạn nói chân thành nên tôi đã nghe lời, và đã ( liều mạng ) in một cuốn.
Còn chuyện của Thu Hương cũng không kém phần lý thú. Có cô cháu tình cờ đọc được đặc san. Ôi, dì ơi, có ông nào viết nhắc tên dì đây này. Sách bên Việt Nam, không phải sách ở đây. Đúng là dì rồi, với họ tên đầy đủ. Dẫu đã mấy chục năm, nhưng chắc dì còn nhớ. Chắc chắn rồi, bạn vẫn còn nhớ. Bạn đang ở một nơi cách đây mười bảy tiếng múi giờ. Một nơi với tên gọi đẹp như thơ, Aloha, Hạ Uy Di, thiên đường du lịch. Và bạn cũng đã về, đã thăm, đã gặp.
Cũng từ trang sách bước ra còn một nhân vật, ( mà tôi viết là rất thân, rồi không thân nhau nữa ), mà tôi chỉ dám viết tên tắt T.L., hay là tên giả Tố Liên. Đó là cô gái hay nàng tiên? Mà mấy chục năm tôi tìm hoài không gặp, bỗng thấy bạn trên trang báo Sông Hương, với những bài thơ, những hồi ký dễ thương. Và, tất nhiên rồi, nối lại liên lạc. Tuy chưa phải là mặt đối mặt, mà chỉ là những cuộc đàm thoại viễn liên. Giờ ni bạn ở nơi mô, hả bạn hiền?


BUỔI GIAO THỜI, CHUYỆN ÍT NGƯỜI  KỂ.


Đầu tháng 3/1975, trường tạm ngừng hoạt động. Không hẹn nhau nhưng mọi người đều xuôi Nam. Điểm dừng chân là thành phố bên sông Hàn, và một lần họp ở toà nhà bưu điện. Thân ai nấy lo, khi thời cuộc chuyển biến. Trường chỉ kịp lo được một chuyện: giao hồ sơ cá nhân đến tận tay mỗi người. Đến cuối tháng, mọi việc đã ngã ngũ rồi, ít nhất là cho mảnh đất miền Trung. Kẻ trước người sau quay trở lại trường, dẹp chuyện riêng tư, lo việc chung trước đã. Ngày 16 tháng tư, thật là chuyện lạ, trường lại mở cửa đón học trò. Dọn dẹp ngổn ngang của chiến sự, sắp xếp kết thúc năm học dở dang. Ban Điều hành mới đã sẵn sàng, với một trưởng hai phó, và hai trưởng ban. Ba tháng hè khác hẳn mọi năm, nghĩa là không một ngày ngưng nghỉ. Tất bật rộn ràng, người chuyển đến, kẻ bỏ đi. Thầy cũng thế, mà học trò cũng thế. Cố tập cho quen dần với tình hình lịch sử đã sang trang. Qua năm học mới, những thầy giáo mấy chục năm trong nghề nay lại thấy ngỡ ngàng, với bao nhiêu chuyện lạ lẫm chưa từng nghe thấy. Bỏ bài soạn, để lo viết giáo án, nhắc nhở nhau phải đủ năm bước mới ngừng. Đừng có dạy ngẫu hứng lung tung, phải bám kỹ mục đích yêu cầu định trước. Thôi hướng dẫn, làm chủ nhiệm cũng được. Thôi đi dạy, hãy tập tành đứng lớp. Dăm bữa, nửa tháng, vác sổ đi dự giờ. Và cuối năm bình bầu đừng có tơ lơ mơ, chỉ nói ưu điểm mà không hề có khuyết nhược điểm! Cũng đừng quên nói là thường xuyên nghe đài đọc báo. Và luôn tuân thủ mọi ý kiến chỉ đạo. Những chuyện như thế là dấu vết của một thời. Ai cũng tặc lưỡi,  bình thường thôi! Có chăng là đôi chút ngậm ngùi, khi nghe gọi là giáo viên lưu dụng. Thậm chí còn có kẻ cố tình bỏ đi dấu nặng. Dùng từ lưu dung, vô nghĩa, mà ngạo mạn khinh khi!
Chuyện này kể không phải để nhớ, mà để quên đi.


NHỮNG NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ


Năm học 75-76 rồi cũng qua mau. Với nhiều chuyện buồn vui của " thuở ban đầu ", với nhiều xáo trộn, đổi thay trong đội ngũ. Tạm chia tay với nhiều đồng nghiệp cũ, và đón chào nhiều người mới chuyển sang. Có nhiều vị lâu nay hoạt động trên rừng, cũng có vị nghe nói là " A chi viện " ( Nguyễn Mười, Hồ Đăng Vu, Trần Quốc Toản... ) , nhiều nhất là từ trường Kiểu Mẫu chuyển lên, vì trường giải thể sau thời gian ngắn đổi tên. Thời gian này với  vai trò " phó ban ", tôi chịu trách nhiệm về công tác giáo vụ. Cả lực lượng gần một trăm người đó, cứ theo ngành đào tạo mà phân công. Ngặt một điều ( các vị còn nhớ không?), thời trước là giáo sư Lý Hoá, nay phải tách ra đôi ngã đôi đường, Lý một bên và Hoá một bên. Thôi thì cứ coi mặt đặt tên, tôi mạn phép âm thầm tách bạch. Trần Như Kiên, Lê Cảnh Em, Trần Ngọc Kỳ, Lê Quang Khanh, Lê Bá Lại, anh dạy Lý,  anh dạy Hoá cũng chẳng sao. May mà các anh không phản đối tiếng nào. Tương tự như thế là các thầy cô Sử Địa, cũng từ nay mỗi vị chỉ dạy một môn. Cô Lê Liên, anh Nguyễn Ngọc Anh, cô Hồng Vân... , à, nhóm Địa còn có hai anh Trần Gia Thọ, Nguyễn Hữu Huyên, trước nghe đâu là dân Toán Lý, và còn ai nữa, xin lỗi, tôi không nhớ hết.
Còn một việc nữa, thiệt tình là rất mệt: chia thời khoá biểu cho cả trường! May mà còn mời thêm được Phan Văn Phương. Hai chúng tôi giam mình cả ngày trong phòng giám học cũ, trước tấm bảng to đùng với những quân cờ trắng xanh vàng đỏ ( mỗi một màu tượng trưng một bộ môn ),  rút ra, cắm vào,  tính toán thiệt hơn, miễn sao học sinh đủ giờ đủ tiết, còn giáo viên thì khỏi cần biết, từ thứ hai đến thứ bảy ngày nào cũng có giờ cũng chẳng sao, lúc này có còn ai dạy bán công, tư thục nữa đâu!
Ôi! Những người anh, người bạn năm nào, có người tôi còn gặp lại, nhưng cũng có người nay xa lắc xa lơ!



VĂN NGHỆ MÙA BỘI THU


Có một kỷ niệm đẹp như mơ, là chuyện văn nghệ học trò quý tư năm 76, nhằm lúc       phong trào thi đua vừa phát động, hội diễn mấy chục trường trong cả tỉnh ( lúc này là từ đèo Ngang đến đèo Hải Vân ).
Quốc Học mang dự thi ba tiết mục, cả ba đều đạt giải hạng A ( có kịch, có đàn, tất nhiên có cả hát ca ). Vở kịch ngắn mang tên "Cô lớp trưởng ", đạo diễn  là thầy Nguyễn Văn Dũng tài hoa. Mục thứ hai là hoà tấu đàn dây, khó có trường nào theo kịp tiết mục này, ( kiếm đâu ra hơn hai chục tay đàn mandoline và guitare thành thục ?, nhất là chơi sao nổi " polonaise "của nhạc sĩ Chopin! ). Tất cả nhờ tài của thầy giáo đàn anh: Trương Huệ Mẫn dày công tập luyện. Tiết mục thứ ba là một màn hợp xướng, gồm đến một trăm hai mươi em tuyển từ nhiều lớp, giọng nữ giọng nam giọng bổng giọng trầm, hát đủ bốn bè bài hát dài bốn chương: " Tiếng hát người chiến sĩ biên thuỳ " của nhạc sĩ Tô Hải.

Chốn đây biên thuỳ có ta ngày đêm,
Súng cầm chắc tay cho núi rừng ngủ yên...

Chiều chiều dừng chân đỉnh cao sườn núi,
Ai đi xa xôi nhưng lòng vẫn vui.
Ngó trông xa xa tận phía chân trời
Quê hương yêu dấu bao người chờ trông...

Rừng biên cương bao mến yêu đã ngăn chặn quân thù
Núi biếc nương đèo ta đứng trông thêm thiết tha tình yêu
Vì quê hương bao mến yêu ta đã đi nơi xa vời
Chiến sĩ biên thuỳ ta ca hát vang muôn lời ca yêu đời...



Mỗi chương bài đổi thay qua nhiều tiết tấu, trầm mặc dịu dàng hào hùng sôi động. Chúng tôi phụ trách mỗi người một giọng, Trương Công Quy, Lê Cảnh Em, Phan Minh Trị và tôi. Đến lúc bài hát tập gần xong rồi, ba bạn giao cho tôi việc chỉ huy khi ra trình diễn. Góp phần vào thành công là phần lĩnh xướng điêu luyện, của em Tôn Thất Quỳnh Án với giọng tenor vút cao.

Nhắc lại chuyện thời nào để nhớ!

NỘI QUY TIẾP KHÁCH NƯỚC NGOÀI.


Có một dạo nói chuyện với người nước ngoài là điều cấm kỵ. Lỡ gặp tình cờ cứ đường ai nấy đi. Họ có hỏi thì giả lơ, không nói gì ( làm bộ như mình không hề nghe hiểu ). Còn nếu muốn chứng tỏ xứ này người tài giỏi không hề thiếu, tiếng Tây tiếng Mỹ khối người nói làu làu, dừng chân lại trao đổi vài câu, thì chắc chắn sau đó không lâu, sẽ được mời và cố mà giải thích. Anh có biết đó là ta hay địch, mà khoa môi múa mép ba hoa? Ôi trời ơi, đến giờ này thì địch ở đâu ra! Làm khó nhau thế này là hết nước nói rồi. Ngậm miệng ăn tiền từ nay xin hứa, tôi chỉ lỡ một lần này thôi.
Đó là nói chuyện bàn dân thiên hạ. Vô trong trường học có gì khác hơn? Nhất là đối với trường Quốc Học, nơi khách nước ngoài tới thăm luôn? Khỏi phải nói, cứ giữ đúng trật tự kỷ cương. Chỉ có hiệu trưởng mới là người tiếp xúc, còn ai khác muốn nói gì phải đúng nơi đúng lúc, và phải qua phiên dịch thông ngôn. Dù có nói giỏi tiếng Anh như tổng thống Clinton. Hay thạo tiếng Pháp như tổng thống Chirac. Nói rõ như thế, cứ thi hành, đừng có thắc mắc. Vậy mà có người vi phạm, thế mới đau. Chuyện đơn giản, chẳng có gì đâu. Một buổi sáng đẹp trời đầu năm 78. Có mấy ông khách Hung Gia Lợi ghé thăm. Làm việc với trường xong, buồn tình mấy ổng dạo bước ngoài sân, ngang chỗ thầy giáo trẻ Bùi Truyền và đám học trò đang đứng. Mấy ông ni có biết tiếng Anh không thầy? Mà có biết cũng không giỏi bằng thầy, thầy hí? Dân Đông Âu biết chi Anh với Mỹ. Để thầy hỏi thử cho chúng bây coi. Và thầy lên tiếng hello, how are you? rạch ròi.  Rứa mà họ cũng trả lời được. Rồi hai bên vui vẻ chuyện trò, lời tuôn như nước. Lời sếp dặn, thầy giáo tiếng Anh đã vội quên. Chỉ khi nào cái ghế hiệu trưởng các đồng chí đã ngồi lên, thì khách khứa phương xa tha hồ tiếp. Còn bây giờ, nói gần nói xa chẳng qua nói thiệt: nội quy tiếp khách là... không được tiếp ai! Mời viết cho tôi bản kiểm điểm đủ dài, nói cho hết động cơ nào thúc đẩy. Có chi mô, tại mấy đứa học trò xúi bẫy, nói khích tôi khiến tôi phạm lỗi lầm! Thôi tôi xin chịu án phạt: cuối năm, mất danh hiệu lao động tiên tiến.


DẠY NGOẠI NGỮ KIỂU LỒNG GHÉP



Còn một chuyện " có yếu tố nước ngoài " nữa. Xin kể tiếp ra đây cho vui cửa vui nhà. Lần này thì là khách Pháp lang sa. Chắc cũng là người trong ngành giáo dục,
vì tới trường họ đòi thăm lớp dự giờ. Hiệu trưởng Đặng Xuân Trừng ưu ái chọn tôi. " Có anh thì tôi yên chí lắm rồi, cố gắng dạy sao cho thật tốt, đừng để trường phải ốt dột, danh tiếng lẫy lừng, truyền thống trường ta!"
Đi với khách, tôi đã nhận ra, có anh Bửu Ý đóng vai phiên dịch. Tôi xác định được ngay mục đích: 12 C5 là lớp khá của trường, học sinh đều ngoan ngoãn, dễ thương, và nhất là lâu nay vẫn hăng say phát biểu. Có một điều không nói ra ngay là thiếu: sách giáo khoa thời này phải bảo đảm được yêu cầu, lồng chính trị vô nội dung bài giảng. Không có ngoại lệ cho sách dạy ngoại văn. Dân tộc ta yêu nước nồng nàn, chống ngoại xâm, nhớ ơn những anh hùng liệt sĩ, kháng chiến thần kỳ, đánh thắng đế quốc to... Bài giảng hôm nay, thật tình cờ, rơi đúng vào chủ đề như thế. Chuyện về anh hùng Nguyễn Trung Trực với câu nói thuộc lòng của bao thế hệ: Bao giờ cỏ còn mọc trên nước Nam... Tên bài tôi còn nhớ, dù đã mấy chục năm: " Tant que l'herbe poussera sur cette terre". Tôi cố vận dụng theo giáo học pháp, qua văn phạm, giảng từ vựng để giúp học sinh hiểu được bản văn. Cũng gợi mở, phát triển tư duy, phát vấn. Giờ học sinh động như tôi mong muốn, mà không dùng tiếng mẹ đẻ xen vào. Hết nội dung bài, tôi kết luận một câu: Học lịch sử, các em nên nhớ, kẻ thù của ta là chủ nghĩa thực dân, còn người Pháp, nhân dân Pháp, muôn đời là bạn quý.
Hiệu trưởng mời về phòng họp góp ý. Các giáo sư người Pháp nhấn mạnh một điều: cũng từng dạy ngoại ngữ đã nhiều, hôm nay chúng tôi mới ngộ ra cái mới: dạy ngôn ngữ vẫn có thể lồng ghép giáo dục tư tưởng vào, hèn gì mà học sinh Việt Nam nổi tiếng khắp bốn biển năm châu! Hiệu trưởng nghe, có vẻ rất khoái. Tôi nhìn anh Bửu Ý và thầm nói: Anh dạy đại học có kiểu ni không?!


Thôi chỉ kể chừng đó, không dám dài dòng. Sợ mất thì giờ người đọc với những chuyện tào lao. Làm sao cũng chẳng làm sao, dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi. Bạn xưa gặp gỡ mấy khi, trường xưa hồi tưởng, vội ghi mấy dòng. Lời tâm sự tận đáy lòng, chuyện đời có có không không, cũng đành!


THÂN TRỌNG SƠN
CHS ( 60-63 )
CGV ( 71-78 )





samedi 8 août 2015

Thơ TOSHIKO HIRATA




Thơ TOSHIKO HIRATA
Nhà thơ Nhật Bản
( 1955 -        )



      Từ thập niên 80 của thế kỷ XX, Toshiko Hirata đã được nhắc đến như một khuôn mặt nổi bật trong trào lưu " bùng nổ các nhà thơ nữ " của nền thi ca Nhật Bản đương đại. Thơ Toshiko Hirata thường có vẻ hài hước đen, đề cập những vấn đề cá nhân trong những tình huống khác thường, dẫn đến những khắc khoải về nếp sống gia đình truyền thống và vị trí của mỗi người theo phân công của xã hội.
Các bài thơ dưới đây ( trừ bài cuối cùng - Đừng rung chuyển - là cảm tác sau trận động đất kinh hoàng ngày 11/3/2011 tàn phá miền đông bắc nước Nhật ) trích từ tuyển tập Taminaru ( Cuối cùng ), được giải thưởng Bansui năm 1997.
Thơ Toshiko Hirata đã được dịch sang tiếng Trung, tiếng Hàn, tiếng Anh, tiếng Ý và tiếng Nga.
       Hiện nay, Toshiko Hirata vẫn tiếp tục làm thơ, ngoài ra còn viết tiểu thuyết, kịch và tiểu luận.


LỜI THAN PHIỀN CỦA CƯ DÂN


Ai đang trèo lên tường nhà đấy?
Tường có phải để trèo đâu
Tường để vẽ hình lên mà

Ai đang nói trên mái nhà đấy?
Mái nhà có phải là nơi trò chuyện đâu
Mái nhà để khiêu vũ dưới mưa mà.

Ai đang đánh bóng cửa sổ đấy?
Cửa sổ có phải để đánh bóng đâu
Cửa sổ để rộn ràng va đập nhau mà.

Ai đang khóc dưới những tấm ván sàn đấy?
Khoảng không bên dưới chẳng phải để khóc
Mà để những tên trộm ẩn nấp và uống đến say mèm.

Ai đang rơi từ những cầu thang đấy?
Cầu thang chẳng phải để rơi
Mà để giăng dây phơi khô mực ống.

Ai đang gõ cửa đấy?
Cánh cửa chẳng phải để gõ vào
Cửa ở đó, dựng đứng lên,
Để ngăn cách bạn và tôi.



KỲ QUẶC


Gia đình kia có vẻ hơi kỳ quặc phải không?
Chiếc anten truyền hình vẫn nằm ở chỗ nó rơi xuống
Tấm biển hiệu trước cửa nhà là gỗ rẻ tiền
Họ chỉ giặt giũ mỗi tháng một lần
Họ có một tượng Phật lớn trước sân.
( Tôi thấy vậy khi trộm nhìn qua hàng rào )

Gia đình kia có vẻ hơi kỳ quặc phải không?
Ông chồng đến đêm dắt bò về nhà
Bà vợ mỗi sáng đi khiêu vũ
Lũ trẻ trần truồng đi học
Cả nhà nuôi trồng nấm dưới tấm thảm
( Tôi thấy vậy khi trộm nhìn qua cửa sổ phòng tắm )


Gia đình kia có vẻ hơi kỳ quặc phải không?
Ông chồng đang chế tạo tên lửa
Bà vợ đang mài dao
Lũ trẻ đọc sách về bệnh tật người lớn
Họ ăn cơm bên dưới chiếc bàn
( Tôi nhận ra vậy khi trộm nhìn qua nhà bếp )

Gia đình kia có vẻ hơi kỳ quặc phải không?
Họ chuyển đến đây tròn một năm rồi
Họ không mang theo quà cáp cuối năm
Họ không đến để luận bàn mọi chuyện
Họ du hành như một gia đình đi dịp năm mới
Họ đang trù tính một kế hoạch nào đó
( Tôi nghe nó đang bò dưới sàn ).


NGƯỜI VỚI NGƯỜI


Xin cho tôi nghe giọng nói của bạn
Xin hãy lắng nghe giọng nói của tôi

Xin vẽ chiếc cửa sổ bạn thích
Xin hãy để tôi vẽ sắc màu tôi ưa.

Xin cho tôi mượn cái hồ của bạn
Cứ thoải mái trèo lên ngọn núi của tôi.

Xin cho tôi xem xương đòn của bạn
Hãy đổi một mẩu xương của bạn cho tôi.

Xin cho tôi xem đường chỉ tay may mắn của bạn
Tôi sẽ cho bạn một phần đường sinh mệnh của tôi.

Xin để tôi tiếp cận tường thuật của bạn
Xin nghe trọn câu chuyện của tôi.

Xin cho tôi xem thương tích của bạn
Xin hãy nhìn vết sẹo của tôi.

Xin để tôi thấy bạn ra sao khi mắt đẫm lệ
Tôi cũng sẽ khóc bởi muốn bạn ở cạnh tôi.

Xin vẽ cho tôi bản đồ
Của thành phố nơi bạn sinh trưởng
Sẽ có ngày tôi muốn cùng bạn đi đến đó.

Xin cho tôi xem chiếc bóng của bạn
Tôi sẽ xếp nó cạnh bóng của tôi
Hẳn là cả hai sẽ giống hệt nhau
Xin cho tôi biết tên bạn
Và cũng xin hãy hỏi tên tôi.



NGƯỜI KHÔNG CÓ CÁNH TAY


Có người không có cánh tay đang đứng đó
Hắn với tôi đối mặt nhau ở lối băng qua đường
Như có chiếc cầu dây thừng treo giữa hai chúng tôi
Hắn không có cánh tay nào
Hắn đi lối này khi đèn xanh bật
Tôi vừa đi vừa nhìn xuống đôi giày
Ra vẻ đang lo lắng
Tôi bước đi bên hắn
Khi đã tới phía bên kia
Khi đã vượt qua cầu tôi quay lại nhìn
Tôi nhìn chiếc áo choàng cũ kỹ của hắn
Tôi quan sát hai ống tay trống không
Nơi áo choàng của hắn đang phất phơ trong gió.

Tôi là người đã chặt hai cánh tay của hắn
Tôi dùng cưa cắt rời chúng
Như cách vứt bỏ hai cành cây thừa thãi
Để hắn không thể cầm bánh lái
Để hắn không thể gõ phím đàn
Để hắn không thể mở cửa đi ra
Để hắn không thể đến nơi nàng ở
Để hắn không thể túm lấy ngực nàng
Để hắn không thể bóp cổ nàng
Tôi đã cưa với tất cả sức lực
Tôi thực hiện hoàn hảo, xem đấy là lần đầu tiên
Dẫu hắn đã khen tôi thành thạo
Thân thể của người không cánh tay
Vẫn sạch sẽ như cái cây vào mùa đông
Nhưng

Những cánh tay mọc lại, mọc lại nữa
Khi hắn tới được phòng nàng
Hai ống tay rỗng của chiếc áo choàng
Sẽ đầy đặn lại như những cành cây
Ngay cả khi tôi đã tách gọn làm hai
Những cánh tay mọc lại, mọc lại mãi.



GIA ĐÌNH NGỘ NGHĨNH CỦA TÔI


Những con quạ tháng tám
Nhìn chằm chặp chúng tôi.
Từ sáng tinh mơ trở đi
Cha không thể tới cơ quan chính phủ
Mẹ không thể đi thương thuyết với hãng bảo hiểm
Con gái không thể đi làm ở công ty thiết kế
Con trai không thể dạy khoa học xã hội.

Những con quạ tháng tám
Nhìn chằm chặp chúng tôi
Ngay cả vào buổi chiều
Cha không thể tới lớp học khiêu vũ
Mẹ không thể gặp huấn luyện viên quần vợt
Con gái không thể lặn với bình hơi
Con trai nhún nhảy một điệu nhạt nhoà trong phòng khách.

Những con quạ tháng tám
Nhìn chằm chặp chúng tôi
Ngay cả khi đêm đã xuống
Cha không thể thiêu huỷ nhà kho
Mẹ không thể lừa gạt tình nhân
Con gái không thể cướp taxi
Con trai không thể bắt cóc trẻ nít.



LỜI CHÀO HỎI LÀ QUAN TRỌNG


Khi bạn sắp qua cầu
Hãy chào hỏi " Xin cho tôi đi qua "
Nếu không nói, chiếc cầu sẽ gãy đôi
Khi bạn mới đi nửa đường.

Khi bạn sắp bước vào xe
Hãy chào hòi " Xin cho tôi vào "
Nếu không nói, bánh xe sẽ nổ
Khi bạn ngồi xuống ghế.

Khi bạn sắp bơi trong hồ
Hãy chào hỏi " Xin cho tôi bơi "
Nếu không nói, hồ nước sẽ biến thành cát
Khi bạn nhúng chân vào.

Khi bạn sắp lau mặt
Hãy chào hỏi " Xin để tôi cùng lau với bạn "
Nếu không nói nói, chiếc khăn sẽ thấy đau
Khi bạn đắp vào mặt.

Khi bạn sắp lên giường ngủ
Hãy chào hỏi " Xin cho tôi ngủ đây "
Nếu không nói, chiếc giường sẽ biến thành quan tài
Khi bạn mới thiếp ngủ.




PHÒNG NGỦ CỦA VAN GOGH NHƯ TÔI NHÌN THẤY


Trong phòng này có hai cái ghế
Cả hai đều giản dị, chẳng cầu kỳ,
Thứ loại không rõ,
Tuổi tác cũng không rõ,
Cả hai đều giản dị nhưng
Ghế bên trái hơi trưởng thành hơn
Cái ghế bên phải
Có thể nó là anh trai
Còn cái ghế bên trái là em gái.

Giữa hai cái ghế là một cái bàn
Choán gần hết nửa căn phòng
Kích thước cái giường còn lớn hơn
Cái bàn và hai cái ghế đặt sát nhau
Có điều cái giường chẳng chút xấu hổ
Về kích thước quá cỡ của mình.

Bàn và ghế đều đứng
Trong khi giường thì nằm
Mấy ngày nay nó không ổn lắm
" Khoẻ hơn nhé, cha ơi "
" Khoẻ hơn nhé, cưng ơi "
Người vợ và hai đứa con
Nhìn cảnh đó, lòng lo lắng, bồn chồn.

Người chồng không cầm cự được lâu
Máu chảy ra từ cơ thể ông
Nhuộm sàn nhà một sắc màu u tối
Người vợ cầm cái bình với cái cốc
Sẵn sàng đem nước tới cho người chồng đang hấp hối.

Mảnh vải lớn treo trên tường
Để bọc cơ thể người cha khi ông chết
Người anh lớn đã âm thầm quyết định
Tự mình làm việc đó khi đến lúc cần.
Không hay biết chuyện gì đang xảy ra
Em gái nhỏ đến gần bên cha
Nhưng không thốt được nên lời.





      
                                       ( Bedroom in Arles, tranh Van Gogh - Nguồn : Wikipedia )



Người nghệ sĩ đã vẽ cảnh này
Lúc cuối đời đã tự bắn vào mình trên đồng lúa mì
Người nghệ sĩ đã vẽ cảnh này
Thuở sinh thời sống với gia đình không hạnh phúc.

Màu sắc cái giường ở trong phòng
Giống vô cùng với màu sắc đồng lúa mì
Trong khi các bức tường của gian phòng
Giống vô cùng với màu sắc bầu trời
Che phủ cánh đồng lúa mì.



ĐỪNG RUNG CHUYỂN


Nó rung chuyển
Hôm nay nó lại rung chuyển nữa
Tôi không biết rằng trái đất
Là một cái nôi ngỗ ngược
Một cái nôi ác nghiệt khiến cho
Không ai ngủ được, cả người lớn lẫn trẻ con.

Bây giờ là tháng ba, là mùa xuân,
Lẽ ra phải là một mùa hiền lành với giấc xuân êm,
Khi ngủ sâu ta chẳng thấy trời đã sáng,
Nhưng mùa xuân năm nay
Rung lắc ta và không để ta
Yên ngủ giấc nồng.

Hỡi trái đất, chỉ cần
Nhà ngươi cứ thản nhiên
Vui vẻ quay tròn mãi
Dành sự rung chuyển
Cho hoa phất phơ trong gió,
Cho quần áo giặt xong phơi phóng cả năm
Lẽ ra ngươi chỉ cần thản nhiên quay tròn
Vô hại, vô tâm.

Hỡi những sức mạnh đang xô lắc trái đất
Hãy biến thành bong bóng và tan biến đi
Đừng rung chuyển
Đừng rung chu
Đừng run
Đừng
Đừng
Không!



( Dịch từ bản tiếng Anh của Jeffroy Angles.
   Nguồn :       actionyes.org )


THÂN TRỌNG SƠN
dịch và giới thiệu