Affichage des articles dont le libellé est thơ dịch Pháp Việt. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est thơ dịch Pháp Việt. Afficher tous les articles

dimanche 23 février 2020

TÔI GIẢI THÍCH VÀI ĐIỀU




Bạn sẽ hỏi: đâu rồi những đoá tử đinh hương
Đâu những thứ siêu hình tẩm hoa á phiện
Đâu cơn mưa liên tục đập vào chữ nghĩa
Lấp đầy chúng với khe hở và chim muông?
Này đây, tôi sẽ kể hết bạn nghe.

Tôi sống ở ngoại ô
Thủ đô Madrid, với chuông, 
Với đồng hồ và cây cối.

Từ nơi đây có thể nhìn thấy
Khuôn mặt khô của vương quốc Castilla
Như một đại dương bằng da.
Nhà tôi được mệnh danh
 Căn nhà hoa, vì khắp cả bốn phía
Hoa phong lữ nở rộ,
Một căn nhà xinh xắn,
Có chó và trẻ con.
Có nhớ không, Raoul?
Còn nhớ chứ, Rafael?
Federica nữa, hẳn là vẫn nhớ,
Dưới lòng đất sâu?
Có nhớ không, từ trên ban công
Nắng tháng sáu đem hoa về ngập tràn môi bạn?

Nhớ không, những người anh em của tôi?
Thuở ấy, mọi thứ đều là tiếng ồn ã,
Vị mặn của hàng hoá,
Bánh mì chất đống hổn hển thở
Những kệ hàng nơi xóm chợ Arguelles với bức tượng
Tựa bình mực khô giữa lớp cá
Dầu chảy vào những chiếc thìa
Tiếng chân bước, tiếng đập tay
Vang rền trên phố,
Những mét, những lít, đơn vị chính xác
Đo đếm kích tấc cuộc đời,
Cá tươi xếp từng lớp chồng chất,
Trên những mái nhà trong nắng lạnh,
Chiếc chong chóng gió uể oải xoay
Khoai tây ngồn ngộn trắng ngà
Cà chua lớp lớp như từng đợt sóng biển xa.

Nhưng rồi một sớm mai tất cả bùng cháy
Một sớm mai ngọn lửa cuồng
Ngoạm hết mặt đất
Tàn sát mọi sinh linh,
Từ buổi ấy lửa cháy
Từ buổi ấy súng rền
Từ buổi ấy máu rơi.
Bọn cướp với máy bay và lính dữ
Bọn cướp  với nhẫn vàng và gái đẹp
Bọn cướp với áo thụng đen vung vãi lời ban phước
Từ trời cao ập xuống giết trẻ con
Máu trẻ thơ loang đổ trên đường
Chảy thầm lặng như máu trẻ thơ.

Này lũ sài lang mà ngay cả sài lang còn khinh miệt
Loài đá mà ngay cỏ gai cắn vào cũng muốn nhổ ra
Giống rắn độc mà ngay cả rắn độc cũng kinh tởm!

Đối mặt với chúng bây ta đã thấy
Máu Tây Ban Nha trào lên như ngọn triều
Nhấn chìm chúng bây  trong cơn sóng
Của lòng tự hào và của những lưỡi dao.

Hỡi lũ tướng tá bội phản
Hãy nhìn căn nhà của ta đổ nát
Hãy nhìn đất nước Tây Ban Nha tan hoang,
Từ mỗi ngôi nhà, thép lửa sẽ ngập tràn
Thay vì hoa,
Từ mỗi ngóc ngách của quê hương
Tây Ban Nha sẽ trổi dậy
Và từ mỗi xác trẻ thơ một họng súng chĩa ra từ đôi mắt
Từ mỗi tội ác viên đạn sẽ nảy ra
Ghim vào tim bọn bây.

Bạn sẽ hỏi: sao thơ anh không nhắc tới
Những giấc mơ và những bông hoa  
Những ngọn hoả sơn hùng vĩ trên quê hương!

Hãy đến đây nhìn máu đổ trên đường
Hãy đến đây nhìn
Máu đổ trên đường,
Hãy đến đây nhìn máu đổ
Trên đường!


PABLO NERUDA


Thân Trọng Sơn dịch



mercredi 21 août 2019

ALICANTE





ALICANTE

Une orange sur la table
Ta robe sur le tapis
Et toi dans mon lit
Doux présent du présent
Fraîcheur de la nuit
Chaleur de ma vie

JACQUES PRÉVERT
(1900 - 1977)


ALICANTE


Một trái cam trên bàn
Áo em trên tấm thảm
Và em trên giường anh
Tặng phẩm ngọt ngào của hiện tại
Khí mát của đêm thanh
Hơi ấm của đời anh.



( Alicante là tên một thành phố hải cảng của Tây Ban Nha, cũng là tên một thứ rượu vang nổi tiếng sản xuất ở đây.)

Có thể nói Jacques Prévert đã vận dụng sở trường về hội họa và kịch nghệ trong bài này. Bài thơ mở đầu với hình ảnh một bức tranh tĩnh vật :
(1)Một trái cam trên bàn
(2)Áo em trên tấm thảm

Điều thú vị là tác giả đã chuyển hình ảnh này sang đoạn sau bằng sự nhắc lại mà không trùng lặp ở hai câu 4 và 5 :
(4)Tặng phẩm ngọt ngào của hiện tại
(5)Khí mát của đêm thanh

Đến câu thứ ba ( được nhắc lại ở câu thứ 6 ) không gian tĩnh đã nhường chỗ thế giới động với sự xuất hiện của nhân vật : 
(3)Và em trên giường anh
            ………………
(6) Hơi ấm của đời anh.

Và như thế tranh vẽ đã chuyển thành màn kịch ngắn với ngôn ngữ không lời, bố cục độc đáo của bài thơ mở ra nhiều hướng cho người đọc tự cảm nhận.
*******




Sinh ra cùng với thế kỷ XX và sống đến 3/4 thế kỷ này, JACQUES PRÉVERT đã để lại cho đời những dấu vết sâu đậm. Năm 1992, mười lăm năm sau khi Ông qua đời, toàn bộ tác phẩm của Ông đã được in trong Tủ sách Pléiade, một tủ sách “sang trọng” dành cho những tác giả mà tài năng và danh tiếng đã được thừa nhận. Tập thơ Paroles ( Lời nói ) xuất bản lần đầu vào tháng 5 năm 1946, chỉ một tuần sau đã in thêm 5000 bản, đến nay vẫn còn tái bản và tính ra đã có hơn hai triệu bản in. Khắp nơi trên đất Pháp hiện nay có hàng trăm trường học mang tên Ông, chỉ tính riêng trường trung học ( collège / lycée ) có đến 309 trường.

Ngay từ năm 1925, Ông đã đồng hành cùng nhóm Siêu thực, cùng sáng tác và sinh hoạt với các nghệ sĩ của nhóm này như Raymond Queneau, Yves Tanguy, Marcel Duhamel, Louis Aragon và tất nhiên cả André Breton ; nhưng chẳng bao lâu, với bản tính thích độc lập và tự do sáng tạo,  Ông đã sớm tách rời trường phái Siêu thực, tách rời mọi ràng buộc phái nhóm.

Trong thời gian từ 1932 đến 1936, Ông tham gia nhóm kịch Tháng Mười, viết nhiều vở kịch có nội dung khuynh tả, bênh vực những người bị áp bức, bóc lột. Nhóm thường trình diễn trong các khu lao động , các nhà máy, cửa hàng, đã từng sang Nga biểu diễn năm 1933.

Đồng thời với việc viết kịch bản và đối thoại phim - khiến tên tuổi Ông gắn liền với tên tuổi của đạo diễn nổi tiếng Marcel Carné và các diễn viên lừng lẫy như Jean Gabin, Michèle Morgan -  JACQUES PRÉVERT làm thơ khá sớm. 
Suốt thời gian từ 1929 đến 1945, thơ của Ông xuất hiện rải rác trong các tạp chí hoặc dưới dạng bản đánh máy. Mãi đến năm 1946, một người bạn thân của Ông là René Bertelé, phụ trách nhà xuất bản Le Point du Jour, mới tập hợp lại và cho ra mắt người đọc, lấy nhan đề là Paroles, mở đầu cho một loạt tác phẩm đều đặn xuất hiện sau đó : Histoires ( 1946 ), Spectacles ( 1951 ),Grand bal du printemps ( 1951 ), Charmes de Londres (1951 ), L'opéra de la lune ( 1953 ), La pluie et le beau temps ( 1955 ), Lumière d'homme (1955 ), Fatras ( 1966 ), Imaginaires ( 1972 ), Choses et autres ( 1972 ) , Hebdromadaires ( 1972 ) và, sau khi Ông mất, Soleil de nuit ( 1980 ), La cinquième saison ( 1984 ).

Ngay từ các tập đầu tiên, thơ JACQUES PRÉVERT đã chinh phục người đọc mọi lứa tuổi bằng một thứ ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu. Ông không coi trọng cú pháp, vần luật, diễn đạt nhẹ nhàng, hồn nhiên, có khi như là văn nói. Cái xu hướng tự do của Ông trước hết thể hiện ở chỗ trong cùng một tác phẩm, Ông đưa vào đủ loại thơ : thơ có vần, thơ tự do, thơ kể chuyện, trữ tình, công kích, có bài như một tiểu phẩm ( saynète ), có những bài rất ngắn ( 3 câu, 4 câu ), có bài dài trên 30 trang ( La crosse en l'air / Gậy quyền chỉ lên trời ). 

Ông thoải mái sử dụng đủ mọi hình thức chơi chữ ( jeux de mots) : điệp âm, đồng âm, lặp lại, nói lái, đảo ngược … Ông đặt tên cho một tác phẩm của mình là HEBDROMADAIRES. Đó là mot valise tức là một từ mới được tạo ra bằng cách ghép một/ vài âm tiết của một từ với một/ vài âm tiết của từ khác ( hebdomadaire + dromadaire ). Tương tự như thế Ông viết un alcolonel ( alcool+colonel ) … Ông chơi chữ với hình thức đồng âm ( homonymie ) : De deux choses lune / l’autre c’est le soleil. ( l’une – l’autre và lune. ) Cũng là đồng âm nhưng ví dụ sau đây thật là bất ngờ :
Les conquérants : Terre ... Horizon . Terrorisons.
Còn học trò Hamlet ( trong bài L’accent grave ) khi chia động từ « être » đã nói
Je suis ou je ne suis pas  rồi tiếp : Je suis « où » je ne suis pas
và kết luận : Être «  où » ne pas être / C’est peut-être aussi la question.
thì chỉ với một cái dấu accent grave, không chỉ thầy giáo mà cả Shakespeare cũng phải ngạc nhiên.

Một đặc trưng khác của ngôn ngữ PRÉVERT là việc dùng hàng loạt danh từ, tính từ liên tiếp nhau, tiêu biểu là bài Inventaire/ Liệt kê :
          Một viên đá
Hai ngôi nhà
Ba phế tích
Bốn phu đào huyệt
Một khu vườn
Những bông  hoa 
Người đọc tưởng như đây chỉ là những liên tưởng ngẫu hứng, không có một trật tự, một ý tưởng nào. Nhưng đọc xuống đoạn sau :
Một ông đeo bắc đẩu bội tinh.
đi liền sau câu
Một cánh cửa với tấm thảm chùi chân
hoặc        Một vị giáo sĩ một cái mụn nhọt...
thì chắc chắn không phải là ngẫu hứng nữa rồi.
Thế đó, JACQUES PRÉVERT viết như một nhà ảo thuật của ngôn từ nhưng điều này không có nghĩa là thơ Ông dễ dãi, hời hợt. Là người sớm vào đời lao động kiếm sống, Ông tỏ ra đồng cảm với những cảnh đời khốn khó, chia sẻ với những thân phận bị áp bức, bóc lột. Ông lớn tiếng chống lại những thế lực tước đi tự do và hạnh phúc của con người, và, ở đây, không có đề tài nào là cấm kỵ ( tabou ) đối với Ông.
Cho dù đó là tôn giáo :
Lạy Cha chúng tôi ở trên trời
Xin Người cứ ở đó
Còn chúng tôi, chúng tôi cứ ở dưới đất
Trái đất đôi khi rất xinh đẹp...
                                 ( Pater Noster )
Cho dù đó là vương quyền :
Louis XIV mà người ta còn gọi là Vua Mặt trời
Thường hay ngồi trên chiếc ghế thủng
Vào khoảng cuối triều đại mình
Một đêm trời tối đen
Vua Mặt trời bước ra khỏi giường
Đến ngồi trên chiếc ghế
Và mất hút.
                  ( L’éclipse )

Ngược lại, Ông luôn ca ngợi tình yêu, thương yêu trẻ em, quan tâm đến thú vật - đấy là những chủ đề quen thuộc trong thơJACQUES PRÉVERT. 
Ông luôn nhắc đến thú vật trong thơ của mình, đặc biệt là loài chim. Chỉ riêng trong tập Paroles  chim đã hiện diện trong hơn hai mươi bài. Chim có thể chịu một số phận bi thảm, chim bị mèo vồ ăn mất một nửa rồi được cả làng tổ chức cho một đám tang thật to ( Le chat et l’oiseau / Mèo và chim ), chim chết cả hàng ngàn con khi bay về từ hải đảo vì lóa mắt trước ánh sáng ngọn hải đăng nên va đập vào nhau  ( Le gardien de phare aime trop les oiseaux / Người gác hải đăng quá yêu chim ). Nhưng chim bao giờ cũng là biểu tượng của tự do : Vẽ chim thì trước hết phải vẽ cái lồng với cánh cửa để mở, rồi khi chim tự bay vào lồng rồi thì hãy tháo gỡ dần từng chiếc chấn song, có thế chim mới cất tiếng hót ( Pour faire le portrait d’un oiseau / Để vẽ chân dung một con chim ). Chim phải được thoải mái bay chuyền từ cành này sang cành khác ( Le désespoir est assis sur un banc / Tuyệt vọng ngồi trên chiếc ghế băng ).

Càng yêu thương loài vật, Ông càng dành nhiều tình cảm cho tuổi thơ. Trẻ em không thể mãi là cậu học trò nhỏ cứ phải đứng trước lớp để cho  « người ta hỏi nó / đủ mọi thứ vấn đề ». Trẻ em phải được quyền nói có với những gì mà nó thích, phải được lấy phấn đủ màu / trên tấm bảng thương đau / vẽ khuôn mặt hạnh phúc. ( Le cancre / Học trò lười ). Trẻ em không thể mãi bị tra tấn bởi những bài học nhàm chán hai với hai là bốn, bốn với bốn là tám ...khi mà từ bên ngoài lớp học tiếng chim hót vọng đến. Trẻ em phải được hát được chơi với chim để cho  «  tám với tám bỏ đi / và bốn với bốn và hai với hai / cũng lần lượt chuồn theo... » và lúc đó thì : 
... các bức tường lớp học
yên lặng sụp đổ
rồi cửa kính trở lại thành cát
mực viết trở lại thành nước
bàn học trở lại thành cây
phấn viết trở lại thành vách đá
cán bút trở lại thành chim.
và trẻ em trở lại với khung trời mơ mộng của lứa tuổi thần tiên. ( Page d’écriture / Trang viết ). 

Đối với JACQUES PRÉVERT, tình yêu rất cần cho cuộc sống, yêu là sống và sống là yêu :
Chúng ta yêu nhau và chúng ta đang sống
Chúng ta đang sống và chúng ta yêu nhau
Và chúng ta không biết cuộc đời là gì đâu
Và chúng ta không biết hôm nay là ngày mấy
Và chúng ta không biết tình yêu nó ra sao.
( Chanson / Bài ca )
Đó là tình cảm nhẹ nhàng tinh khiết của những đứa trẻ ôm hôn nhau « trong ánh sáng chói lòa của mối tình đầu tiên » ( Les enfants qui s’aiment / Những đứa trẻyêu nhau ), tình yêu của đôi trai gái cùng mới mười lăm tuổi phải « ăn gian » cọng tuổi cả hai để nói chúng ta đã ba mươi tuổi rồi chúng ta đã có quyền yêu nhau. ( Embrasse-moi / Hãy ôm hôn em ). 

JACQUES PRÉVERT đã đi qua thời đại đầy biến động của Ông với một thái độ tỉnh táo, không gò mình trong khuôn phép của trường phái nghệ thuật, không để bị ràng buộc bởi xu hướng chính trị, tự khẳng định mình qua nhiều hình thức biểu hiện và nổi trội hơn cả vẫn là thơ vì với Ông “ Thơ ca có mặt ở khắp nơi cũng như Thượng đế chẳng có ở đâu cả.Thơ ca là một trong những biệt danh xác thực nhất, hữu dụng nhất của cuộc đời” (La poésie est partout comme Dieu n’est nulle part. La poésie, c’est un des plus vrais, un des plus utiles surnoms de la vie».



THÂN TRỌNG SƠN
dịch và giới thiệu.


lundi 1 avril 2019

ĐÊM ĐẠI DƯƠNG







OCEANO NOX
Victor Hugo
(1802-1885)


Ôi ! Biết bao thuỷ thủ, bao thuyền trưởng
Lòng rộn ràng khi cất bước lữ hành!
Rồi chôn vùi nơi chân trời u tối
Bao người đã mất, số phận ác tàn
Biển sâu mịt mùng, đêm tối không trăng, 
Mãi mãi vùi thân dưới đáy đại dương!

Biết bao chỉ huy chết cùng đồng đội
Cơn cuồng phong cuốn hết những trang đời
Trong thoáng chốc tan biến giữa biển khơi
Nào ai biết phận người chìm vực thẳm.
Vồ một con mồi qua từng đợt sóng
Hết lính thuỷ đến mảnh thuyền dạt trôi.

Nào ai hay, hỡi những người xấu số, 
Thân bồng bềnh giữa khoảng rộng tối tăm
Trán lạnh va đập vào tảng đá ngầm.
Thương cha mẹ vẫn còn nuôi hy vọng
Đã qua đời, sau bao ngày trông ngóng, 
Các anh đi chẳng thấy hẹn ngày về.

Có những đêm, trên đống neo rỉ sét
Vui quây quần, họ thường nhắc đến anh,
Tên tuổi anh vương vít một thời gian
Với tiếng cười, khúc hát, chuyện phiêu lưu
Với cái hôn lén trao người anh yêu,
Các anh giờ yên nghỉ với rong rêu.

Người ta hỏi “ Anh giờ đâu rồi nhỉ?
Vua đảo nào? Hay đến chốn giàu sang?”
Rồi kỷ niệm về anh bị vùi chôn
Thân dưới nước, và tên trong ký ức.
Thời gian qua, tô thêm đậm bóng đen
Trên biển tối phủ tối niềm lãng quên.

Rồi bóng anh tan biến trước mắt người,
Kẻ buông chài, người cày cấy, vậy thôi.
Chỉ những đêm khi giông bão ngập trời,
Vầng trán bạc, mỏi mòn, người sương phụ
Còn nhắc đến anh khi khơi đống tro tàn
Nơi bếp lửa, trong cõi lòng nát tan.

Khi mắt khép rồi trong nấm mộ xanh
Hỏi còn gì vang vọng những tên xưa?
Chẳng phiến đá nơi nghĩa trang chật chội
Chẳng liễu xanh rụng lá lúc sang thu
Không cả điệu hát hồn nhiên, đơn điệu
Của người hành khất nơi góc cầu xưa.

Họ đâu rồi? Những người chìm trong tối?
Hỡi sóng kia, mang bao chuyện đau lòng,
Sóng sâu thẳm, bà mẹ quỳ khiếp đảm,
Lúc triều dâng, sóng mang kể cùng nhau,
Nào khác gì những thanh âm tuyệt vọng
Khi kéo đến cùng ta lúc đêm thâu.


*********

Trích từ tập “ Tia sáng và bóng tối “ ( les Rayons et les Ombres ) , đây là một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của Victor Hugo. Tác giả sáng tác bài này tại Saint-Valéry-sur-Somme khi ông cùng gia đình về nghỉ dưỡng tại khu du lịch này năm 1837.

Nhan đề bài thơ trong nguyên bản là Oceano Nox, tiếng la tinh, có nghĩa là Nuit sur l’océan. ĐÊM ĐẠI DƯƠNG.

Đêm đại dương muôn đời vẫn thế: Đêm mịt mù và đại dương mênh mông. Mà lại là biển không đáy và đêm không trăng. ( Dans une mer sans fond, par une nuit sans lune ). Nên những người lính thuỷ với tâm thế hân hoan, trước cuộc viễn du với nhiều hăm hở, trong thoáng chốc bị sóng cả dập vùi, “ cơn cuồng phong cuốn hết những trang đời “, “ nào ai biết phận người chìm vực thẳm “, đời lính thuỷ chỉ là cuốn sách mỏng, bị bão tố xé nát từng trang, niềm vui thì ngắn mà cái chết quá thảm thương! 

Bài thơ mở đầu bằng tiếng kêu thương ( Oh! ) và một loạt những điệp từ, câu cảm thán ( Combien, combien de... ), khắc hoạ nên cảnh tình bi thảm, giữa đại dương bao la vô tận, con người quá yếu đuối, nhỏ nhoi. Đắm tàu trong bão tố, cái chết quá đau xót ngậm ngùi, nhất là cho những người ở lại, vẫn ngày ngày chờ đợi ngóng trông. Cha mẹ họ ban đầu còn hy vọng, mà người đi có trở lại bao giờ, rồi mỏi mòn khắc khoải trên bãi trên bờ, rốt cuộc cũng theo nhau khuất núi.
( Oh ! que de vieux parents, qui n’avaient plus qu’un rêve, 
Sont morts en attendant tous les jours sur la grève 
Ceux qui ne sont pas revenus! )

Mỗi tối đến, trong những mái nhà êm ấm, cũng có người nhắc đến các anh, cũng gợi lại qua tiếng cười, khúc hát, qua nụ hôn trộm lén trao người anh từng hẹn ước, qua những chuyện phiêu lưu họ kể cho nhau nghe. 

Mãi vẫn không thấy anh trở về. Cũng có người băn khoăn tự hỏi: hay các anh đã trở thành vua hải đảo? hay là bỏ quê hương tìm chỗ giàu sang? 
Thế nhưng có ai dừng được dòng chảy thời gian? Sẽ đến lúc chẳng ai còn nhớ nữa, kỷ niệm về anh sẽ bị vùi chôn, thân trong nước và tên trong ký ức. Thời gian qua, tô thêm đậm bóng đen, trên biển tối phủ tối niềm lãng quên.

( Puis votre souvenir même est enseveli. 
Le corps se perd dans l’eau, le nom dans la mémoire. 
Le temps, qui sur toute ombre en verse une plus noire, 
Sur le sombre océan jette le sombre oubli.)

Biết làm sao được? Lãng quên là quy luật khắc nghiệt của thời gian. Không ai nhớ, vì ai cũng phải lo việc mình. “ Kẻ buông chài, người cày cấy, vậy thôi“. Duy chỉ còn có người vợ goá, đau xót nhớ thương người thân yêu, lúc đêm khuya mưa bão thét gào, còn nhớ anh trong nỗi buồn tê tái, ngồi khêu lại nơi bếp lửa lớp tro tàn, và cả tro của cõi lòng nát tan. 

( Seules, durant ces nuits où l’orage est vainqueur, 
Vos veuves aux fronts blancs, lasses de vous attendre, 
Parlent encor de vous en remuant la cendre 
De leur foyer et de leur cœur! )

Thế là hết. Chết không nấm mồ. Nghĩa trang buồn không cả bia mộ. Không cả hình ảnh cành liễu rủ. Không tiếng ca buồn của người hành khất nơi góc cầu xưa. 

Bỗng vang lên lời thảng thốt của nhà thơ: “ Họ đâu rồi? Những người chìm trong tối? “ Câu hỏi tu từ như một cách khơi gợi, niềm cảm thông, chia sẻ nỗi đau. Cùng với sóng, mỗi chiều lúc triều dâng, chứng nhân bao câu chuyện đau lòng, nhà thơ suy ngẫm về số phận con người, vốn hữu hạn trong thời gian và không gian vô hạn. 

ĐÊM ĐẠI DƯƠNG, bài trữ tình trong dòng thơ lãng mạn, vẫn đậm đà tính triết lý, nhân văn, vượt qua biên giới địa lý và tháng năm, vẫn ngời sáng như một viên ngọc quý!


THÂN TRỌNG SƠN 
dịch và giới thiệu
(4/2019)
Tặng Phạm Cao Hoàng và Trương Vũ.




OCEANO NOX


Oh! combien de marins, combien de capitaines 
Qui sont partis joyeux pour des courses lointaines, 
Dans ce morne horizon se sont évanouis! 
Combien ont disparu, dure et triste fortune! 
Dans une mer sans fond, par une nuit sans lune, 
Sous l’aveugle océan à jamais enfouis! 

Combien de patrons morts avec leurs équipages! 
L’ouragan de leur vie a pris toutes les pages 
Et d’un souffle il a tout dispersé sur les flots! 
Nul ne saura leur fin dans l’abîme plongée. 
Chaque vague en passant d’un butin s’est chargée;  
L’une a saisi l’esquif, l’autre les matelots! 

Nul ne sait votre sort, pauvres têtes perdues! 
Vous roulez à travers les sombres étendues, 
Heurtant de vos fronts morts des écueils inconnus. 
Oh ! que de vieux parents, qui n’avaient plus qu’un rêve, 
Sont morts en attendant tous les jours sur la grève 
Ceux qui ne sont pas revenus! 

On s’entretient de vous parfois dans les veillées. 
Maint joyeux cercle, assis sur des ancres rouillées, 
Mêle encor quelque temps vos noms d’ombre couverts 
Aux rires, aux refrains, aux récits d’aventures, 
Aux baisers qu’on dérobe à vos belles futures, 
Tandis que vous dormez dans les goémons verts! 

On demande : -- Où sont-ils ? sont-ils rois dans quelque île? 
Nous ont-ils délaissés pour un bord plus fertile? - 
Puis votre souvenir même est enseveli. 
Le corps se perd dans l’eau, le nom dans la mémoire. 
Le temps, qui sur toute ombre en verse une plus noire, 
Sur le sombre océan jette le sombre oubli.


Bientôt des yeux de tous votre ombre est disparue. 
L’un n’a-t-il pas sa barque et l’autre sa charrue? 
Seules, durant ces nuits où l’orage est vainqueur, 
Vos veuves aux fronts blancs, lasses de vous attendre, 
Parlent encor de vous en remuant la cendre 
De leur foyer et de leur cœur! 

Et quand la tombe enfin a fermé leur paupière, 
Rien ne sait plus vos noms, pas même une humble pierre 
Dans l’étroit cimetière où l’écho nous répond, 
Pas même un saule vert qui s’effeuille à l’automne, 
Pas même la chanson naïve et monotone 
Que chante un mendiant à l’angle d’un vieux pont.

Où sont-ils, les marins sombrés dans les nuits noires? 
Ô flots, que vous savez de lugubres histoires! 
Flots profonds redoutés des mères à genoux! 
Vous vous les racontez en montant les marées, 
Et c’est ce qui vous fait ces voix désespérées 
Que vous avez le soir quand vous venez vers nous!


VICTOR HUGO
(1802-1885)