jeudi 2 septembre 2021

ĐOẠN CHƯƠNG

 

ĐOẠN CHƯƠNG


Biện Chi Lâm


Biện Chi Lâm quê tỉnh Giang Tô, Trung Quốc, sinh năm 1910. Từ thuở nhỏ, ông đã có thiên hướng yêu thích thơ ca kim cổ. Năm 1929, ông theo học khoa tiếng Anh, trường Đại học Bắc Kinh. Thời gian này, ông đọc nhiều và chịu ảnh hưởng các nhà thơ lãng mạn Anh và nhà thơ tượng trưng Pháp. Ông làm thơ rất sớm. Thi tập đầu tiên ông xuất bản là cuốn Tam thu thảo, (1934), trong đó nhiều bài nhuốm màu sầu muộn và tuyệt vọng, tình cảm phổ biến của giới trẻ lúc này.


Chịu ảnh hưởng của trường phái “ Tân nguyệt “, Biện Chi Lâm là người có nhiều đóng góp cho việc hiện đại hoá thơ ca Trung Quốc. Ông từng là đồng chủ biên tạp chí “ Tân Thi “ ( 新诗 ), cùng với Đái Vọng Thư ( Dai Wangshu, 戴望舒 ), 1905-1950, là nhà thơ trẻ từng du học ở Pháp, làm thơ bằng tiếng Pháp, sau có dịch thơ Pháp ( Les Fleurs du Mal, Baudelaire ), thơ Tây Ban Nha ( Federico Garcia Lorca ).

Ông cũng từng là giáo sư ngoại ngữ trường Đại học Bắc Kinh, chuyên viên nghiên cứu tại Sở văn học nước ngoài thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc.


Một số tác phẩm tiêu biểu, sau cuốn Tam thu thảo nói trên:

Ngư mục tập (1935),

Hán viên tập (1936),

Uý lạo tín tập (1940),

Thập niên thi thảo (1942),

Điêu trùng kỷ lịch (1930-1958).


Bài thơ Đoạn chương giới thiệu dưới đây nguyên là bốn câu lấy từ một bài thơ dài. Tác giả cho biết cả bài ông thích nhất bốn câu này nên ông cắt ra, cho nó thành một bài độc lập. Chính vì vậy ông đặt tên là Đoạn chương ( Đoạn thơ rời ). Và đây là bài thơ tiêu biểu cho khuynh hướng sáng tác của Biện Chi Lâm, trở thành một trong những bài nổi tiếng nhất của ông. Con người với con người, cảnh vật với cảnh vật, con người với cảnh vật, tất cả hoà quyện trong mối quan hệ đan xen, người ngắm cảnh rồi người biến thành cảnh được nhìn ngắm. Giao thoa, giao cảm, giao tình, thiên nhiên cây cỏ là mình hay ta. Cầu in bóng ánh trăng tà, lầu cao ngắm xuống như là cầm tay. Hỡi ôi người đó ta đây, mà trong mộng tưởng ngày ngày gặp nhau.


断 章


你站在桥上看风景,   

看风景的人在楼上看你。   

明月装饰了你的窗子,   

你装饰了别人的梦。


Dịch âm


ĐOẠN CHƯƠNG


Nhĩ trạm tại kiều thướng khán phong cảnh

Khán phong cảnh đích nhân tại lâu thướng khán nhĩ

Minh nguyệt trang sức liễu nhĩ đích song tử

Nhĩ trang sức liễu biệt nhân đích mộng.


Bài dịch 1:


Em đứng trên cầu ngắm phong cảnh

Người trên lầu ngắm cảnh nhìn em

Trăng sáng trang trí cửa sổ nhà em

Em tô điểm giấc mộng người khác.


Bài dịch 2:


Dừng bước trên cầu em ngắm cảnh

Lầu cao ai đứng ngắm nhìn em

Trăng vàng tô điểm phòng em nhỏ

Hình em vẽ mộng người đẹp thêm.


Bài dịch 3:


Dừng chân ngoạn cảnh bên cầu

Nào hay người đứng trên cao ngắm nhìn

Phòng em trăng sáng lung linh

Ai kia ủ mộng bằng hình bóng em.


Bài dịch 4:


FRAGMENT


You stand on a bridge, enjoying the view

From a balcony someone’ s watching you.

The bright moon adorns your window

And you adorn someone’s dreams.


Bài dịch 5:


FRAGMENT


Debout sur le pont tu contemples le paysage

Celui qui regarde le paysage te voit de l’étage

La lune brillante orne ta fenêtre

Et toi, tu ornes le rêve d’un autre.


Bài bonus:


Và em, Trần Nữ Kim Long hỡi

Bên cầu em đứng ngóng chờ ai?

Chùa gần vẳng tiếng chuông khàn đục

Chỉ thời gian một tiếng thở dài.


Đưa em trở về thời Song ngoại

Quỳnh Dao nữ sĩ gối đầu giường

Đường về Thành Nội còn xa lắm

Xuôi nam ngược bắc mấy dặm đường...


Cửa sổ phòng em trăng sáng quá

Trăng Nguyệt Biều, trăng Vĩ Dạ xưa

Trăng về tô điểm thời xa lắc

Áo trắng, tóc dài, tuổi mộng mơ.

Em chừ khuất nẻo đường xa,

Tưởng là thoáng chốc, hoá ra muôn đời.

Núi cao chi lắm núi ơi!


THÂN TRỌNG SƠN

dịch và giới thiệu

30/5/2019

jeudi 12 août 2021

BUỔI HỌC CUỐI CÙNG

 

BUỔI HỌC CUỐI CÙNG

Chuyện kể của một cậu bé người xứ Alsace



Truyện ngắn

Alphonse Daudet

(1840-1897)





Alphonse Daudet sinh năm 1840 tại Nîmes, tuổi thơ êm đềm trải qua tại miền nắng gió Provence, sau này sẽ là nguồn cảm hứng cho nhà văn khai thác trong các tác phẩm của mình. Chỉ tiếc là cả gia đình phải sớm rời nơi này để chuyển đến Lyon, khi xưởng tơ vải của người cha bị phá sản phải đóng cửa. Một thời gian sau, ông lại theo anh là Ernest lên Paris sinh sống. Chính người anh này đã khuyến khích Alphonse Daudet tập tành viết lách. Ông sáng tác tập thơ tình ( Les amoureuses ) rồi viết nhiều đoản văn phản ánh hiện thực xã hội. Có thể mầm mống văn tài sớm bộc lộ nên ông được  Công  tước de Morny 

( bộ trưởng dưới thời Napoléon Iii ) nhận làm thư ký, vị trí giúp ông bảo đảm cuộc sống. Cũng nhờ sự bảo trợ của vị này, ông viết được vài vở kịch ngắn, được mang đi trình diễn. (La Dernière idole, 1862; Les Absents, 1864; L'Œillet  blanc, 1865 ). Ông đảm nhiệm việc này cho đến lúc Công tước de Morny qua đời năm 1865. Từ đây Alphonse Daudet bắt đầu chính thức sống bằng ngòi bút của mình. Chỉ một năm sau, những sáng tác đầu tiên đã xuất hiện trên các báo. “ Tartarin de Tarascon “ là trường thiên tiểu thuyết gồm ba quyển, xuất bản năm 1872, được giới phê bình tán thưởng, khẳng định vị trí của tác giả trên văn đàn. 


Ông còn in thêm nhiều truyện dài khác nữa, nhưng đối với độc giả Việt Nam thì quen thuộc hơn hết vẫn là những tác phẩm sau:


Le Petit Chose, truyện dài ( hơn 200 trang, xuất bản năm 1868 ), thuật lại “ những cuộc phiêu lưu của một cậu bé đang dần trở thành người lớn”, vẽ nên khung cảnh thấm đẫm tình cảm nhân văn, với nhân vật chính sớm đánh mất tuổi thơ vì hoàn cảnh cuộc sống không như các bạn cùng lớp. Ai cũng gọi cậu bằng biệt danh “ Le Petit Chose“ mà không bao giờ gọi tên thật Daniel Eyssette. Đây là một dạng tự truyện với rất nhiều chi tiết liên quan đến nhân vật chính hoàn toàn giống với tác giả.


Lettres de mon moulin, tập truyện ngắn, xuất bản năm 1869, là một dạng hồi ký về thời niên thiếu của tác giả. “ Thư viết từ cối xay của tôi “ là khuôn mẫu của thứ văn phong nhẹ nhàng, trau chuốt, với những trang viết từng làm say đắm bao thế hệ học sinh yêu văn chương và ngôn ngữ Pháp. Bốn, năm chục năm sau, những người này vẫn còn nhớ mãi câu chuyện “ Những vì sao “ ( Les étoiles ) kể chuyện anh mục đồng mộng mơ lãng mạn ngắm sao trời ngỡ chuyện yêu thương. Anh thuộc tên các vì sao và muốn tìm hiểu sự bí mật của vũ trụ.

Truyện “ Con dê của ông Seguin “ ( La chèvre de monsieur Seguin ) hấp dẫn bạn đọc trẻ tuổi kiểu khác. Truyện mang tính triết lý, sự yên tĩnh của đồng quê có giới hạn của nó. Con dê đâu chỉ cần an toàn ăn cỏ trên đồng, nó còn thèm khát tự do. Nó bứt dây buộc, lên núi và gặp sói. Nó chiến đấu suốt đêm với con sói hung dữ, dù cuộc chiến không cân sức nhưng vẫn là một câu chuyện đẹp.


Contes du Lundi, tập truyện ngắn ( xuất bản năm 1873 ), gồm ba phần với tổng cộng 42 truyện, tất cả đều lấy cảm hứng từ cuộc Chiến tranh Pháp - Phổ, 1870-1871, trong đó “ La dernière classe “, Buổi học cuối cùng, là truyện đầu tiên và có lẽ cũng là truyện hay nhất của tuyển tập “ Truyện kể ngày thứ hai “ này.


Pháp thua trận, phải giao hai tỉnh Alsace và  Lorraine cho nước Phổ, và chính quyền mới buộc các trường học ở đây phải dạy tiếng Đức thay cho tiếng Pháp. Buổi học cuối cùng, vì thế, không phải là buổi học cuối của năm học để thầy trò chia tay về nghỉ hè, mà là buổi học cuối để sau đó thầy không thể dạy trò không thể học tiếng Pháp được nữa. Đến lúc này, thầy giáo mới có dịp giảng cho học trò rằng tiếng Pháp “là ngôn ngữ đẹp nhất trên thế giới, trong sáng nhất, hợp lý nhất, vững vàng nhất, và cần bảo vệ nó, đừng bao giờ được phép quên điều đó, vì khi một dân tộc bị rơi vào vòng nô lệ, chừng nào còn giữ vững tiếng nói của mình thì không khác gì nắm được chiếc chìa khoá mở cửa tù giam.”

Suy nghĩ bất chợt của cậu học trò Frantz khi nghe tiếng gù gù của mấy  con chim bồ câu “ Liệu người ta có bắt cả chúng nó cũng phải hót bằng tiếng Đức không nhỉ? “ là mối cảm hoài cay đắng, khi nhận ra mảnh đất quê hương không giữ được.





***********




Sáng hôm ấy tôi tới trường trễ, rất lo sẽ bị la, nhất là vì thầy Hamel đã dặn sẽ dò bài về thể phân từ, mà tôi thì không hiểu chữ nào. Có lúc tôi đã nghĩ đến chuyện trốn học, bỏ đi lêu lổng ngoài đồng. Trời thì ấm áp  và tươi đẹp quá thế này.


Nghe có tiếng chim ríu rít ở bìa rừng, và trên cánh đồng Rippert đàng sau xưởng cưa, đám lính Phổ đang tập trận. Những thứ này hấp dẫn tôi hơn cái món mẹo luật phân từ, nhưng tôi cũng còn cưỡng lại được, và tôi ba chân bốn cẳng chạy tới trường.


Khi đi ngang Toà Thị Chính, tôi thấy đám đông người đang tụ tập trước bảng cáo thị. Suốt hai năm qua, mọi tin xấu đều từ nơi đó mà ra, nào tin thua trận, nào là lệnh tuyển binh, rồi các chỉ thị của bộ chỉ huy, tôi tự hỏi, chân vẫn không dừng: “ Lại chuyện gì nữa đây?”

Thế rồi, khi tôi vội vàng chạy qua khu quảng trường, bác thợ rèn Wachter đang đứng đọc bảng cáo thị với anh học việc, nói lớn với theo tôi:

“ Chạy gì nhanh thế, cậu bé. cậu còn cả khối thời gian tới trường mà!” Tôi nghĩ là bác ấy đang giễu cợt tôi, và tôi thở hổn hển khi tới được mảnh sân nhỏ của thầy Hamel.


Thông thường, khi bắt đầu giờ vào lớp, luôn có những âm thanh ầm ĩ, ngoài đường cũng nghe thấy, tiếng mở đóng hộc bàn, tiếng học trò ôn bài đồng loạt, rất ồn ào vì cứ bịt tai mà đọc để nghe cho rõ, còn cả tiếng thầy gõ thước lên bàn nữa.


“ Tất cả im lặng nhé!”


Tôi hy vọng sẽ lợi dụng lúc chộn rộn này để vô lớp không bị ai nhìn thấy. Nhưng hôm nay sao lại yên lặng như đang là sáng chủ nhật thế này! Qua cửa sổ, tôi thấy các bạn đã ngồi vào chỗ đàng hoàng, còn thầy Hamel thì đang đi tới đi lui với cây thước kẻ bằng sắt đáng sợ kẹp dưới nách. Phải mở cửa bước vào trong không khí lặng lẽ đó. Bạn chắc là tưởng tượng ra mặt tôi đỏ rần và tôi run sợ như thế nào.


Thế nhưng, không. Thầy Hamel nhìn tôi không chút giận dữ và dịu dàng nói: “ Hãy vào chỗ ngồi nhanh đi, em Frantz. Lớp học bắt đầu mà vắng mặt em đó.”


Tôi nhảy qua băng ghế và ngồi xuống ngay bàn của mình. Đến lúc đó, khi đã bớt lo sợ tôi mới nhận ra là hôm nay thầy mặc cái áo khoác màu xanh thật đẹp, diềm lá sen gấp nếp mịn và đội cái mũ tròn bằng lụa đen thêu mà thầy chỉ mặc những hôm có thanh tra hoặc phát phần thưởng.


Thêm vào đó, hôm nay trường tôi có vẻ gì lạ lùng và trang nghiêm khác thường, nhưng điều làm tôi sững sờ hơn hết là trên mấy băng ghế đặt ở cuối lớp, mọi ngày bỏ trống, hôm nay lại thấy có mấy người dân trong làng đang ngồi lặng lẽ giống như chúng tôi vậy. Ông già Hauser với cái nón xếp ba góc, ông cựu thị trưởng, ông cựu bưu tá, và nhiều người khác nữa, ai trông cũng buồn rầu. Ông Hauser có mang theo quyển sách vỡ lòng cũ, góc đã quăn queo, ông mở sẵn trên đùi, đặt cái kính đeo mắt trên trang sách.


Trong khi tôi đang tự hỏi về tất cả những điều đó thì thầy Hamel ngồi vào ghế của mình, và cất tiếng, cũng với cái giọng nhẹ nhàng và nghiêm trang mà lúc nãy thầy nói với tôi: “ Này các con, đây là buổi học cuối cùng thầy dậy các con. Lệnh đến từ Berlin là tất cả các trường học ở Alsace và Lorraine chỉ được phép dùng tiếng Đức mà thôi. Ngày mai sẽ có thầy mới tới đây và hôm nay là buổi học tiếng Pháp cuối cùng. Thầy mong các con phải chú ý thực kỹ. “


Những lời ấy khác nào sấm sét giáng xuống đầu tôi! Ôi, bọn khốn! Thì ra đây là cái mà chúng đã dán ở Toà Thị Chính!


Buổi học tiếng Pháp cuối cùng của tôi sao! Tôi còn chưa biết viết nữa mà! Tôi không được học nữa sao? Phải ngưng hết việc học ngay lúc này sao? Tôi giận mình biết bao về thời gian bỏ phí bấy lâu, tôi đã trốn học để đi tìm trứng chim hay đi trượt ván ở Saar! Những cuốn sách mà mới khoảnh khắc trước tôi cho là thứ khô khan, mang vác nặng nề, sách ngữ pháp , sách lịch sử linh thiêng, giờ tôi coi như những người bạn cũ, khó khăn lắm mới rời bỏ được. Và thầy Hamel cũng vậy. Nghĩ đến việc thầy sắp sửa đi xa, tôi sẽ không còn gặp thầy được nữa là tôi quên hết những hình phạt, những đòn đánh thước kẻ của thầy trước kia.

Tội Thầy quá!


Chính vì coi trọng buổi học cuối cùng này mà thầy đã mặc bộ đồ đẹp thường chỉ diện ngày chủ nhật, và lúc này tôi mới hiểu tại sao những vị bô lão trong làng đến ngồi trên những băng ghế nơi cuối lớp. Có vẻ như họ cũng hối hận rằng đáng lẽ họ phải đến trường siêng năng hơn. Đó là cách họ tỏ lòng tri ân thầy chúng tôi đã tận tuỵ suốt bốn mươi năm nay, và cũng để biểu lộ tình cảm ân nghĩa đối với tổ quốc nay đã mất đi.


Tôi đang nghĩ về những điều này bỗng nghe tiếng thầy gọi tên. Đến phiên tôi phải đọc bài. Tôi có thể đánh đổi gì để có thể đọc được hết cái quy tắc về phân từ lẫy lừng đó, đọc thật to, thật rõ, không vấp váp chút nào nhỉ? Tôi chỉ ấp úng được mấy chữ đầu tiên thôi, rồi đứng yên như trời trồng, chết dí nơi băng ghế, tim đập mạnh, chẳng dám ngước mắt lên. Tôi nghe thầy Hamel nói với tôi: “ Này Frantz, thầy không la con đâu, con bị trừng phạt thế là đủ rồi, con thấy chưa, ngày nào ta cũng tự bảo: ấy, ta còn khối thời gian mà, để ngày mai rồi học cũng được. Và con thấy kết quả ra sao rồi đó... Ừ, tai hoạ lớn nhất của xứ Alsace chúng ta là bao giờ cũng trì hoãn việc học đến ngày mai. Và giờ đây, những kẻ kia có quyền bảo chúng ta rằng: Thế nào! Các ngươi tự nhận mình là dân Pháp, thế mà sao các ngươi chẳng biết đọc biết viết được tiếng mẹ đẻ của mình! .. Trong chuyện này, trò Frantz à, con đâu phải là người tội lỗi nhất. Tất cả chúng ta đây đều phải tự trách mình cả đấy.


Bố mẹ các con không chăm lo lắm việc học hành của các con. Họ thích các con ra đồng làm việc hay vào nhà máy hơn để kiếm thêm chút tiền. Còn thầy đây, bộ thầy không có gì đáng trách à? Chẳng phải là thầy đã sai các con đi tưới hoa trong vườn thay vì bắt các con phải học bài. Và khi thầy muốn đi câu, thầy chẳng ngần ngại cho các con nghỉ học.


Thế rồi, từ chuyện này bắt sang chuyện khác, thầy Hamel nói về tiếng Pháp, bảo rằng đó là ngôn ngữ đẹp nhất trên thế giới, trong sáng nhất, hợp lý nhất, vững vàng nhất, và cần bảo vệ nó, đừng bao giờ được phép quên điều đó, vì khi một dân tộc bị rơi vào vòng nô lệ, chừng nào còn giữ vững tiếng nói của mình thì không khác gì nắm được chiếc chìa khoá mở cửa tù giam. Rồi thầy mở sách ngữ pháp ra và đọc bài học cho chúng tôi nghe. Tôi ngạc nhiên thấy mình hiểu thật thông suốt. Những điều thầy nói nghe thật dễ hiểu, thực sự rất dễ hiểu. Tôi cũng thấy rằng tôi chưa bao giờ chú ý nghe thầy giảng chăm chú đến thế, mà thầy cũng chưa bao giờ giảng giải mọi điều một cách kiên nhẫn đến thế. Như thể là trước khi đi xa thầy muốn truyền cho chúng tôi tất cả kiến thức của mình, cố trút hết vào đầu óc chúng tôi tất cả một lần.


Sau bài ngữ pháp, đến bài tập viết. Hôm đó, thầy đã chuẩn bị những tờ mẫu mới toanh, trên đó có viết bằng chữ rông thật đẹp: France, Alsace, France, Alsace... Những tờ giấy tập viết như những lá cờ nhỏ bay khắp phòng học, treo trên những thanh gắn trên mặt bàn học chúng tôi. Bạn phải nhìn thấy mọi người chăm chú làm việc như thế nào, và lớp học im lặng ra sao! Chỉ còn nghe được tiếng ngòi bút cào trên giấy. Có lúc, có vài con bọ bay vào phòng, nhưng chẳng ai để ý đến chúng, ngay cả những thằng nhỏ bé nhất đang cố công vạch những nét sổ thẳng, toàn tâm, toàn ý, chừng như những nét sổ đó cũng là tiếng Pháp. Trên mái nhà, những con bồ câu gù gù nho nhỏ, tôi nghe tiếng chim và nhủ thầm: “Liệu người ta có bắt cả chúng nó cũng phải hót bằng tiếng Đức không nhỉ? “


Có khi đang viết tôi ngước nhìn lên, tôi thấy thầy Hamel ngồi bất động trên ghế, mắt chăm chăm nhìn hết vật này sang vật khác, như muốn ghi sâu trong tâm trí mình tất cả hình ảnh ngôi trường nhỏ bé này. Thật lạ! Đã bốn mươi năm nay, thầy chẳng luôn ở đây, vẫn chỗ ngồi đó, vẫn sân chơi trước mặt, vẫn lớp học không đổi hay sao? Chỉ có mấy cái ghế, cái bàn sử dụng lâu ngày nay trơn mòn hơn, những cây hạt óc chó nay mọc cao hơn, và dây hoa bia do chính thầy trồng nay quấn quanh cửa sổ, leo lên tận mái nhà. Hẳn là thầy đau lòng lắm khi phải rời xa tất cả những thứ này, khi nghe tiếng cô em thầy ở tầng trên đang đi đi lại lại, đóng gói đồ đạc vào mấy cái rương, bởi vì họ phải rời khỏi xứ ngay ngày hôm sau.


Nhưng rồi thầy cũng can đảm dạy hết cả buổi học. Sau phần tập viết, chúng tôi học về lịch sử, sau đó các trò nhỏ bi ba bi bô đánh vần. Dưới kia, ở cuối lớp, cụ Hauser đeo cặp  kính vào mắt, hai tay nâng sách vỡ lòng lên cùng đánh vần theo chúng. Ai cũng thấy là cụ cũng rất chăm chú, giọng run run vì xúc động, nghe rất buồn cười khiến chúng tôi vừa muốn cười vừa muốn khóc. Ôi chao, tôi nhớ buổi học cuối cùng ấy biết bao!


Đột nhiên chuông nhà thờ gõ mười hai tiếng. Rồi đến hồi chuông cầu kinh Đức Bà. Đồng thời tiếng kèn đồng của đám lính Phổ đi tập trận về vang lên dưới mấy cửa sổ phòng học. Thầy Hamel đẩy ghế đứng dậy, mặt tái xanh. Chưa lúc nào tôi thấy thầy cao đến vậy.

Thầy nói: “ Các bạn, các bạn, tôi...tôi...”

Có cái gì đó làm thầy nghẹn lại, không nói hết câu được.

Thầy xoay người về phía bảng đen, nhặt một mẩu phấn, và bằng hết sức mình ấn lên phấn, thầy viết hàng chữ to hết cỡ : “ NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM “.


Thế rồi, thầy ngừng tay, đầu gục lên tường, không nói một lời, thầy xua tay ra dấu như bảo chúng tôi: 

“ Lớp học kết thúc...mọi người về đi!”



THÂN TRỌNG SƠN

dịch và giới thiệu

theo nguyên bản tiếng Pháp.

( Les Contes du lundi / Chuyện kể ngày thứ hai )


https://beq.ebooksgratuits.com/vents/Daudet-lundi.pdf



NGƯỜI THẦY

 

NGƯỜI THẦY


                                  

                             Elisabeth Silance Ballard.



Một truyện ngắn cảm động về tình thầy trò. Có hai chi tiết khiến người đọc có thể nghĩ chuyện xảy ra ở Việt Nam, không phải ở Mỹ, chuyện hôm nay, không phải cách đây hơn bốn mươi năm. Đó là việc giáo viên đối xử công bằng, đồng đều với tất cả học sinh là điều rất khó, đến nỗi nếu giáo viên hứa với học sinh của mình như thế, thì chính thầy hay cô  đó biết ngay là mình đang nói dối! Thứ hai là việc học sinh tặng quà đồng loạt cho giáo viên nhân một cơ hội nào đó, tưởng là đơn giản nhưng có khi lại khá tế nhị, gây bối rối cho học sinh nếu em nào đó không có điều kiện, chỉ có thể mang đến một món quà tầm thường, khiến cả lớp phải cười nhạo. Xử lý tình huống này tuỳ bản lĩnh và cái tâm của người thầy.


Kể từ khi được đăng tải trên tạp chí Home Life năm 1976, truyện trở nên nổi tiếng, được phổ biến rộng rãi, dịch ra nhiều thứ tiếng. Nhiều người tin đây là một câu chuyện có thật, và hơn thế nữa, còn quả quyết nhân vật chính hiện nay là bác sĩ đang làm việc tại Trung tâm Ung thư của một bệnh viện thuộc tiểu bang Iowa. 

Tác giả Elisabeth Silance Ballard ( một nhà hoạt động xã hội, tác giả nhiều truyện ngắn ) phải lên tiếng xác nhận truyện hoàn toàn hư cấu, không có cô giáo Thompson nào, cũng không có học sinh cá biệt Teddy nào cả, tuy bà có dựa vào vài chi tiết đời tư để sáng tác.

Người đọc khỏi cần bận tâm về chuyện hư thực đó vẫn thấy được vấn đề cốt lõi của công việc người thầy là lương tâm chức nghiệp và quan hệ thầy trò được tác giả nêu lên và giải quyết khá tinh tế. Không giải thích, không bình luận, rất ít lời, chỉ những sự kiện sắp xếp cạnh nhau, ngắt câu, ngắt đoạn bất ngờ, độc đáo, văn phong giản dị. Chừng đó đủ để tạo ra một câu chuyện thú vị, gợi nhiều suy nghĩ cho người đọc, nhất là những ai đang hoặc đã từng dạy học.



Cách đây nhiều năm rồi, có một câu chuyện về một cô giáo dạy tiểu học. Tên cô là Cô Thompson. Hôm đó là ngày đầu tiên của năm học. Khi cô đứng trước lớp 5 do cô phụ trách, cô đã nói với bọn trẻ điều dối trá. Cũng như hầu hết giáo viên khác, cô đưa mắt  nhìn học trò và nói là cô sẽ yêu thương và đối xử công bằng với tất cả. Nhưng điều đó có lẽ sẽ khó thực hiện, bởi ngay ở hàng ghế đầu, cô thấy ngồi lù lù thằng bé Teddy Stoddard. 


Cô Thompson đã biết đến thằng Teddy từ năm ngoái và đã nhận xét rằng nó chẳng chơi được với bọn trẻ khác, áo quần thì lôi thôi lếch thếch và có vẻ như lúc nào cũng cần phải tắm gội. Tóm lại, nó thật khó ưa.

Chuyện dẫn tới mức cô giáo cứ gặp bài của thằng nhỏ là sẵn sàng đánh dấu X thật đậm - với cây bút đỏ to - và ghi chữ F thật lớn trên đầu tờ giấy. (1)


Trong trường cô Thompson dạy, như các giáo viên khác, cô phải xem lại kết quả học tập những năm trước của học sinh và cô đã để hồ sơ của Teddy đến cuối cùng mới xem.

Tuy nhiên, khi cô xem đến hồ sơ của thằng nhỏ, cô đã rất mực ngạc nhiên.


Giáo viên lớp một phê, “ Teddy là một học sinh sáng dạ và vui nhộn, làm việc gì cũng ngăn nắp, cư xử tốt... Em luôn mang đến niềm vui  cho những người xung quanh...”

Giáo viên lớp hai nhận xét, “ Teddy là một học sinh xuất sắc, bạn bè đều yêu mến, nhưng em đang gặp khó khăn vì mẹ em đang mắc bệnh hiểm nghèo, cuộc sống gia đình hẳn là vất vả lắm.”

Giáo viên lớp ba ghi, “Cái chết của mẹ đã gây chấn động mạnh lên Teddy. Em đã cố gắng hết sức nhưng người cha thiếu quan tâm, cuộc sống ở nhà sẽ ảnh hưởng đến em nếu tình hình không cải thiện.” 

Giáo viên lớp bốn phàn nàn, “ Teddy buông xuôi, và không thể hiện niềm hứng thú trong việc học hành. Em không có nhiều bạn bè và thường ngủ gật trong lớp.” 


Đến lúc đó, cô Thompson đã hiểu được vấn đề và thấy xấu hổ về mình. Cô càng thấy   ray rứt hơn khi học sinh tặng cô quà Giáng sinh, tất cả đều được gói giấy bóng loáng và cột dải ruy băng xinh xắn, chỉ trừ quà của Teddy.


Quà của thằng nhỏ được gói vụng về trong một tờ giấy nâu thô ráp, có lẽ lấy từ bọc giấy đựng đồ tạp nham nào đó. Cô Thompson thấy nhói đau khi mở gói quà của Teddy giữa những món quà khác. Một số đứa đã bật cười khi cô lấy ra một vòng đeo tay bằng đá thiếu mất vài hột và một lọ nước hoa chỉ còn một phần tư.

Nhưng cô đã làm cho những tiếng cười kia im bặt khi cô khen chiếc vòng đẹp, rồi đeo vào tay, và thoa một ít nước hoa lên cổ tay.

Và hôm đó Teddy Stoddard đã nấn ná ở lại trường một lát chỉ để nói, “ Cô ơi, hôm nay cô thơm như mẹ em trước đây vậy.” 


Bọn trẻ về hết, cô giáo khóc cả tiếng đồng hồ. Và cũng từ ngày đó, cô không chỉ dạy đọc, dạy viết, dạy làm toán, cô bắt đầu dạy dỗ bọn trẻ. Cô đặc biệt quan tâm đến Teddy.

Và do được cô theo sát, đầu óc thằng nhỏ như sinh động hẳn lên. Cô càng khích lệ thì nó càng đáp ứng nhanh. Đến cuối năm học, Teddy trở thành một trong những học sinh xuất sắc nhất lớp, và, tuy cô đã nói dối là sẽ yêu thương bọn trẻ như nhau, Teddy đã trở thành “ học trò cưng “ của cô giáo.

Một năm sau, ở bục cửa nhà mình, cô thấy có tờ giấy nhỏ của Teddy, nói rằng cô là người thầy tuyệt với nhất nó từng gặp trong đời.


Sáu năm sau cô lại thấy một mảnh giấy khác của Teddy. Nó viết rằng nó đã học xong trung học, được xếp hạng ba trong lớp, và cô vẫn là người thầy tuyệt vời nhất.


Bốn năm nữa trôi qua, cô lại nhận một lá thư khác của Teddy, cậu nói rằng tuy có lúc gặp khó khăn bất ổn trong đời, cậu vẫn theo đuổi việc học và sắp tốt nghiệp thủ khoa đại học. Cậu đoan chắc rằng cô vẫn là người thầy tuyệt vời, mà cậu yêu quý nhất trong đời.


Rồi lại bốn năm nữa trôi qua, lại một bức thư nữa được gởi đến cô. Lần này cậu giải thích là sau khi đỗ cử nhân, cậu quyết định tiến xa hơn. Bức thư nói rằng cô vẫn cứ là người thầy tuyệt vời, được yêu quý nhất trong đời cậu. Nhưng giờ đây, tên của cậu đã dài hơn, tên cậu ký bây giờ ghi thế này: Theodore F. Stoddard, Bác sĩ Y khoa.


Thế nhưng, câu chuyện chưa dừng lại ở đây. Đến mùa xuân lại có một bức thư khác. Teddy kể là cậu đã gặp một cô gái và họ sắp kết hôn. Cậu nói là cha cậu đã mất mấy năm trước, cậu hỏi rằng liệu cô có thể đến dự đám cưới và ngồi vào vị trí vẫn thường dành cho mẹ chú rể không.


Tất nhiên cô Thompson nhận lời. Bạn thử đoán chuyện gì xảy ra. Cô đã đeo chiếc vòng tay khuyết mấy hạt đó. Và cô cũng đã xức thứ nước hoa cũ mà Teddy nhớ là mẹ cậu vẫn thường dùng trong dịp lễ Giáng sinh cuối cùng họ ở cùng nhau.


Hai cô trò ôm choàng lấy nhau, và Bác sĩ Stoddar thì thầm vào tai cô, “ Thưa Cô, con cám ơn cô đã đặt niềm tin vào con. Cám ơn Cô rất nhiều vì cô đã làm cho con có cảm giác mình là quan trọng, chỉ cho con thấy rằng con có thể tạo ra điều khác biệt.” Cô Thompson, mắt đẫm lệ, khẽ đáp: “ Teddy, em nhầm hoàn toàn rồi. Em mới chính là người đã dạy cho cô rằng cô có thể làm nên điều khác biệt. Thực ra cô không biết dạy như thế nào cho đến  khi cô gặp được em.”



—————————————————


  1. Dấu X để đánh dấu chỗ sai trong bài làm, F là điểm kém.




Nguồn: http://www.livinglifefully.com/flo/flothreeletters.htm 





jeudi 25 février 2021

CÂU CHUYỆN CỦA MỘT GIỜ

   


Truyện ngắn


Kate Chopin

Nhà văn Hoa Kỳ

( 1850 - 1904 )



 



Catherine O' Flaherty sinh năm 1850 tại Saint - Louis, Missouri, bố gốc người Ái Nhĩ Lan, mẹ gốc Pháp, lớn lên trong môi trường đa văn hoá, từ nhỏ đã nói tiếng Pháp đồng thời với tiếng Anh. Theo học bậc tiểu học và trung học tại một trường công giáo với các nữ tu. Ở nhà, được nuôi dạy bởi mẹ, bà, và bà cố. Sự giao tiếp thường xuyên với những người phụ nữ ở chung quanh giúp cô bé sớm có nhận xét về vai trò của phái nữ trong gia đình và xã hội, định hình cho những ý tưởng và quan niệm cá nhân của nhà văn tương lai.


Kate Chopin ( Kate là Catherine, Chopin là họ chồng ) chịu nhiều đau thương mất mát ngay khi còn nhỏ. Cha chết vì tai nạn đường sắt khi mới lên năm (1855), bà cố, người đã dạy cho cô tiếng Pháp và văn hoá Pháp, qua đời năm 1863. Trong thời Nội chiến Hoa Kỳ ( 1861 - 1865 ), cô lại mất thêm người anh ( tham gia đội quân của Liên minh miền Nam - Confederate - ).

Kate Chopin kết hôn năm 1870 với Oscar Chopin, một thương gia chuyên buôn bán bông vải, và cũng là người gốc Pháp ).Từ năm 1871 đến 1879, Kate Chopin sinh được 5 trai và 1 gái, và số phận rủi ro vẫn không buông tha, Kate lại chịu tang chồng năm 1882, chỉ sau mười hai năm chung sống. Trở thành quả phụ năm 32 tuổi, Kate Chopin vừa nuôi con, vừa tiếp tục công việc của chồng, và không tái giá. 

Đây là chân dung Kate Chopin giai đoạn này, như ghi nhận của nhà phê bình Barbara Ewell: 


" Kate là một người khá nổi bật và quyến rũ. Không cao lắm, có khuynh hướng mập ra, thực sự xinh đẹp, mái tóc nâu dày, dợn sóng, sớm điểm bạc, đôi mắt nâu sáng trong. Bạn bè nhớ nhiều nhất là thói quen im lặng và sự nhanh trí kiểu Ái Nhĩ Lan, thêm điểm nhấn là biệt tài bắt chước. Một bà chủ nhà duyên dáng, dễ tính, thích cười, thích âm nhạc và khiêu vũ, đặc biệt là kiểu nói chuyện thông minh, bà có thể diễn đạt quan điểm cá nhân với sự thẳng thắn đáng ngạc nhiên."


Sau khi chồng chết không lâu, Kate Chopin trở về sống tại St- Louis để con cái có điều kiện học hành tốt hơn. Năm 1885, đến lượt mẹ Kate Chopin qua đời.


Một bác sĩ sản khoa, cũng là bạn thân của gia đình, khuyến khích Kate viết văn, như là một liệu pháp chống buồn nản và cô đơn sau khi chồng và mẹ lần lượt đi xa.  Nghe theo lời khuyên, Kate bắt đầu cầm bút và truyện ngắn đầu tiên của bà đã được đăng trên tờ St Louis Post Dispatch năm 1889, và một năm sau, bà hoàn thành cuốn tiểu thuyết At Fault.


Hơn mười năm tiếp sau đó, Kate Chopin vừa duy trì hoạt động xã hội, vừa không ngừng sáng tác, hoàn thành được trên dưới một trăm truyện ngắn. Truyện ngắn của Kate Chopin được công bố trên những tạp chí nổi tiếng như Vogue và Atlantic Monthly. Hai tuyển tập lần lượt ra mắt: Bayou Folk, 23 truyện (1894), A Night in Acadie, 21 truyện (1897). Giới phê bình có người cho là truyện chỉ có tính địa phương, chỉ phản ảnh những sinh hoạt tại vùng Louisiana và Missouri.  Đến năm 1899, bà cho xuất bản cuốn The Awakening ( Tỉnh  thức ), thu hút nhiều nhận định đánh giá trái ngược nhau. Một vài nhà phê bình khen ngợi tính nghệ thuật của tác phẩm, nhưng cũng không ít người cho là " nhàm chán ", " tầm thường", " không lành mạnh ",  thậm chí "  độc hại ". Tất cả chỉ vì Kate Chopin là người phụ nữ " đi trước thời đại ", thông qua các nhân vật của mình, bà đã bày tỏ quan niệm ( và phản ứng ) về gia đình, hôn nhân, ly dị, ngoại tình, nữ quyền, chống lại lề thói cổ truyền ( tradition ) và quyền hành ( authority ). ( Mà đâu chỉ trong tác phẩm, ngay trong sinh hoạt đời thường, Kate Chopin cũng tỏ ra " tiên phong " đấy chứ: thời còn sống tại New Orleans hay khi về một thị trấn nhỏ ở St- Louis, bà đã làm mọi người ngạc nhiên khi đi dạo một mình, hút thuốc, ăn mặc kiểu cách và cỡi ngựa hai chân hai bên. ) 


Kate Chopin qua đời đột ngột năm 1904, xuất huyết não. 

Trong một thời gian dài, tác giả và tác phẩm bị lãng quên, ngoại trừ một số rất ít truyện được giới thiệu trong các tuyển tập xuất bản mấy năm sau khi tác giả qua đời.


Sự lãng quên ( bất công và đau đớn ) này kéo dài tới gần ... 70 năm, mãi cho đến năm 1969, khi nhà phê bình người Na Uy, Per Seyersted viết cuốn chuyên luận về tiểu sử của Kate Chopin với nhận định: 

" ( Kate Chopin ) là nhà văn nữ đầu tiên trên đất nước mình nhìn nhận đam mê như là một chủ đề chính thống của tiểu thuyết nghiêm túc, công khai. Chống lại lề thói cổ truyền và quyền hành, với một sự táo bạo mà ngày nay chúng ta khó khăn mới thấu hiểu, với sự thành thực cương quyết, không có chút gì kích động, bà đảm đương việc nói lên sự thật không che đậy về mặt khuất của đời sống người phụ nữ. Bà như là người tiên phong đề cập thẳng thắn những vấn đề dục tính, ly dị, và sự thôi thúc của giới nữ mong muốn tồn tại thực sự. Trong nhiều khía cạnh, bà là một nhà văn hiện đại, nổi bật về nhận thức những phức tạp của  sự thật và tính đa dạng của tự do."


Phong trào nữ quyền ở Mỹ phát triển ngày càng mạnh từ những năm 1960 tạo thuận lợi cho việc đánh giá về tài năng và cống hiến của Kate Chopin. Tác phẩm của bà được tái bản và giới thiệu trở lại.


Truyện ngắn Cơn bão ( the Storm ) được viết năm 1898 nhưng tác giả không thể công bố ngay vì bà biết không nơi nào chịu in một truyện đề cập thẳng thắn và thẳng thừng về tình dục như truyện này. ( lần đầu tiên truyện xuất hiện trong The Complete Works of Kate Chopin, in năm 1969,  tức là gần 70 năm sau khi ra đời! ).


Thông thạo tiếng Pháp, thấm nhuần văn hoá Pháp, lúc sáng tác, Kate Chopin chịu nhiều ảnh hưởng của nhà văn Maupassant. Ở bậc thầy của thể loại truyện ngắn này, Kate Chopin nhận ra văn chương không phải chỉ là hư cấu, mà là chính cuộc sống, với những con người đang sống quanh ta. Nhà văn quan sát và ghi lại, trực tiếp và đơn giản, những gì mình nhìn thấy. Cũng như nhà văn Pháp, Kate Chopin thường viết lại, như kiểu ghi âm, những lời đối đáp của nhân vật với câu chữ, ngữ điệu nguyên thô, để người đọc tưởng mình đang nghe trực tiếp. Hãy thử đọc đoạn này, trích trong truyện Regret ( Nuối tiếc ) để thấy điều đó:


" T ain' ispected sich as you would know airy thing 'bout 'em, Mamzelle Aurlie. I see dat plainly yistiddy w'en I spy dat li'le chile playin' wid yo' baskit o' keys. You don' know dat makes chillun grow up hard-headed, to play wid keys? Des like it make 'em teeth hard to look in a lookin'-glass. Them's the things you got to know in the raisin' an' manigement o' chillun."


Một đặc trưng khác của Maupassant - mà Kate Chopin học tập - là cách kết cấu truyện ngắn, câu chuyện diễn tiến theo tâm lý nhân vật, tình tiết đan xen, và bỗng xoay sang một kết cuộc bất ngờ, tạo ngạc nhiên thú vị cho người đọc. Thủ pháp này biểu lộ rõ với truyện The Story of an hour ( Câu chuyện một giờ ), một trong những truyện ngắn hay nhất của Kate Chopin, được giới thiệu dưới đây. 


Có tin chồng của Louise bị tai nạn chết. Biết nàng bị bệnh tim nên người thân và bạn bè tìm cách báo tin khéo léo, tránh xúc động đột ngột. Ban đầu, nàng cũng đau đớn, vật vã khóc than, rồi rút về ngồi một mình trong phòng riêng. Nơi đây, khi bình tâm nhìn khung cảnh bên ngoài, dường như nỗi đau dần nguôi ngoai. Nàng quan sát những cảnh trí quen thuộc, mây bay, trời trong, cây xanh, mưa nhẹ hạt, nàng lắng nghe những âm thanh quen thuộc, tiếng rao hàng, tiếng nhạc, tiếng chim hót... Thế là một cảm giác lạ lùng, hân hoan, phấn khởi xâm nhập tâm hồn nàng. Nàng buột miệng nói: Tự do, tự do... và thanh thản nghĩ về tháng ngày dài phía trước. Nàng sẽ được tự do sống với sở thích và ước muốn của riêng mình.


Đến đây " câu chuyện một giờ " tưởng chừng kết thúc được rồi. Nhưng...

Ngay lúc này anh chồng bước vào: anh vẫn còn sống, vì trễ tàu! Khi nhìn thấy chồng trở về, Louise lăn ra chết. Bác sĩ kết luận nàng chết vì bệnh tim, vì quá vui mừng. 

 

Câu chuyện kết thúc quá bất ngờ, để cho người đọc tiếp tục suy nghĩ: có phải thực sự Louise quá vui mừng mà chết không. Và từ đó mà bàn thêm những điều tác giả không nói, tình yêu giữa hai vợ chồng chẳng hạn...


Hiện nay, Kate Chopin được xem là một khuôn mặt lớn trong nền văn học Mỹ. Tác phẩm của bà đã được dịch ra hàng chục thứ tiếng, kể cả tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Trung, tiếng Mã Lai, tiếng Á Rập... và tiếng Việt.




**************

Vốn biết bà Mallard bị đau tim, mọi người hết sức cẩn thận và dè dặt lúc báo cho nàng tin chồng nàng đã chết. Chính em gái Josephine đã ngập ngừng bằng những câu đứt quãng, lờ mờ tiết lộ tin. Người bạn của chồng nàng, Richards, cũng ở đó, gần cô ta. Chính anh ta là người đã có mặt tại toà soạn khi nhận tin tức về thảm hoạ đường sắt, với tên của Brentley Mallard đứng đầu danh sách những người tử vong. Anh ta chỉ có đủ thời gian để tự mình xác minh sự thật bằng một bức điện thứ hai, rồi vội vã ngăn trước bất kỳ người bạn nào ít cẩn trọng, ít tế nhị hơn đến đưa tin buồn.

Nàng không nghe câu chuyện như cách nhiều phụ nữ khác có thể nghe những tin kiểu như thế, bị tê liệt đến độ không hiểu ý nghĩa của nó. Nàng bật khóc, bất giác gục xuống trong vòng tay của em gái. Khi những phút đau buồn dịu đi, nàng bước một mình về phòng riêng. Nàng không muốn có ai đi cùng. Nàng đứng đó, mặt hướng ra cửa sổ mở rộng, cạnh một chiếc ghế bành rộng rãi, thoải mái. Nàng buông mình xuống ghế, chìm đắm trong sự kiệt quệ của thể xác và dường như của cả tâm hồn.

Nàng có thể thấy trong khoảng không gian vuông vắn trước nhà những ngọn cây lay động trong tiết xuân mới. Hơi mưa mát dịu trong không khí. Trên con đường bên dưới một người bán rong đang rao hàng. Các giai điệu của một bài hát xa xôi mơ hồ vọng đến tai nàng, rất nhiều chim sẻ đang hót vang dưới mái hiên.

Nàng ngồi tựa đầu lên đệm ghế, hoàn toàn bất động, ngoại trừ khi tiếng nức nở thoát ra từ cổ họng khiến nàng run lên, như một đứa trẻ đã khóc đến khi thiếp đi mà vẫn nức nở cả trong giấc mơ.

Nàng còn trẻ, với khuôn mặt bình thản, xinh đẹp và những đường nét toát lên vẻ cam chịu, thậm chí sự vững vàng của nghị lực. Nhưng giờ đây, ánh mắt của nàng đờ đẫn, nhìn đăm đăm một điểm cố định nào đó trên mảnh trời xanh. Đó không phải là cái nhìn phản ảnh cuộc sống, mà là một sự ngưng đọng về suy nghĩ thông minh.

Có một cái gì đó đang đến với nàng, và nàng đang đợi nó trong sợ hãi. Là điều gì? 

Nàng không biết, nó quá tinh tế, khó mà gọi tên. Nhưng nàng cảm nhận được nó đang trườn ra từ bầu trời, đến tận bên nàng qua âm thanh, mùi hương, màu sắc ngập tràn không khí. 

Bây giờ lồng ngực của nàng đập mạnh. Nàng bắt đầu nhận ra nó , cái đang tới gần chiếm lĩnh tâm trí nàng và nàng đang cố gắng chống chọi bằng ý chí, bằng đôi tay yếu ớt trắng nhợt.

Khi nàng không kiềm chế được nữa, một tiếng thì thầm bất chợt thoát ra đôi môi hé mở. Nàng  thốt ra nhiều lần trong hơi thở: “ Tự do, tự do, tự do! “. Ánh mắt trống rỗng và cái nhìn sợ hãi từ đôi mắt nàng ra theo âm thanh đó. Tia nhìn vẫn sắc sảo, sáng rực. Tim nàng đập nhanh khiến cơ thể ấm dần lên và dễ chịu hơn.


Nàng vẫn không ngừng lại để tự hỏi phải chăng một niềm vui quá lớn đã khiến nàng choáng ngợp. Một cảm nhận rõ nét và phấn khích khiến nàng không thể xem cảm giác này là bé nhỏ. Nàng biết rằng nàng sẽ khóc lần nữa khi nàng nhìn thấy đôi tay dịu dàng, thân thiết đang nắm lại khi lìa trần, khuôn mặt từng nhìn nàng chan chứa tình yêu, giờ bất động, xám lạnh, chết chóc. Nhưng nàng đã nhìn xa hơn, vượt qua cái khoảnh khắc đau đớn đó, thấy hiện ra một khoảng thời gian dài sắp tới sẽ hoàn toàn thuộc về nàng. Và nàng dang tay đón chào khoảng thời gian đó.

Sẽ không sống cho ai khác trong những năm tới, mà chỉ sống cho chính mình. Sẽ không có quyền lực nào khuất phục được nàng trong sự ngoan cố mù quáng mà với sự chiếm giữ đó đàn ông và phụ nữ ngỡ là họ có quyền áp đặt ý chí riêng của một cá nhân cho một cá nhân khác. Một ý định tốt hoặc xấu khiến hành động này dường như không khác gì một tội ác như nàng đã nhìn thấy trong thời khắc bừng tĩnh đó.


Liệu lâu nay nàng có yêu chồng? Có đôi lúc. Thường thì không phải là tình yêu. Nhưng điều đó nào có hề chi? Tình yêu bí ẩn chưa được giải mã, có gì quan trọng khi nàng chợt nhận ra động lực mạnh nhất của nàng chính là sự tự khẳng định!

Nàng tiếp tục thì thầm: “ Tự do! Thể xác và tâm hồn được tự do!”


Josephine đang quỳ gối trước cánh cửa đóng kín với đôi môi áp vào lỗ khoá, xin được vào phòng. “ Louise, mở cửa đi, em van chị mở cửa ra. Chị sẽ tự làm mình  bệnh mất thôi! Chị đang làm gì vậy? Vì Chúa, xin mở cửa ra! “ 

“ Em đi đi, chị không làm mình bệnh đâu mà sợ. “ Không, nàng đã uống một loại thuốc tiên kỳ diệu của cuộc sống từ cánh cửa mở rộng.

Trí tưởng tượng của nàng đang bềnh bồng với những ngày tháng sắp tới. Mùa xuân, mùa hè, tất cả mọi ngày đều sẽ thuộc về nàng. Nàng thốt nhanh một lời cầu nguyện mong cho cuộc sống kéo dài. Chỉ mới hôm qua nàng đã sợ hãi nghĩ là cuộc sống có thể lâu dài.


Cuối cùng nàng cũng đứng dậy mở cửa trước sự van nài của em gái. Có một vẻ đắc thắng trong ánh mắt của nàng, nàng bước đi tự nhiên như một nữ thần Chiến thắng. Nàng ôm em siết chặt và họ cùng nhau bước xuống cầu thang. Richards đang đợi họ ở phía dưới. 


Có ai đó đang dùng chìa khoá mở cửa. Chính là Brentley Mallard, người vừa bước vào, thân hình còn nhuốm bụi đường, ung dung xách chiếc va li du lịch và chiếc dù. Lúc xảy ra tai nạn anh ở cách xa nơi đó và cũng chẳng hề biết là có tai nạn. Anh đứng ngẩn người ngạc nhiên trước tiếng khóc xé lòng của Josephine, và Richards vội bước nhanh để che anh ta khỏi tầm nhìn của vợ.


Khi các bác sĩ đến, họ nói rằng nàng đã chết vì cơn đau tim - chết vì quá vui.



THÂN TRỌNG SƠN

dịch và giới thiệu 

từ nguyên bản tiếng Anh

( 12/2020)



( https://americanliterature.com/author/kate-chopin/short-story/the-story-of-an-hour)



jeudi 22 octobre 2020

BÁO LÂM ĐỒNG VIẾT VỀ THÂN TRỌNG SƠN

 


NHÀ GIÁO, DỊCH GIẢ THÂN TRỌNG SƠN:

''Người đi dạy là người đi học suốt đời''

Cập nhật lúc 05:10, Thứ Hai, 05/10/2020 (GMT+7)

40 năm dạy học, tác giả của hàng trăm truyện ngắn, thơ và bài viết dịch từ tiếng Pháp, tiếng Anh ra tiếng Việt và từ tiếng Việt ra tiếng Pháp, nhà giáo, dịch giả Thân Trọng Sơn được bạn bè trong và ngoài nước biết đến là tấm gương miệt mài cống hiến, góp phần làm đẹp cho cuộc đời.


 





Tôi biết anh Thân Trọng Sơn gần 30 năm trước, khi anh còn là Chủ tịch Công đoàn ngành Giáo dục tỉnh Lâm Đồng, sau đó là cán bộ giảng dạy tiếng Pháp ở Trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt. Anh sinh năm 1945 tại Huế, một lúc tốt nghiệp hai bằng đại học, Sư phạm tiếng Pháp và Văn khoa tiếng Pháp. 40 năm anh dạy học ở Buôn Mê Thuột, Huế và cuối cùng là thành phố Đà Lạt. Năm 1994-1995, anh tu nghiệp ở Pháp và là người vận động thành lập ngành đào tạo giáo viên tiếng Pháp bậc THCS cho tỉnh Lâm Đồng tại Trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt. Yêu văn chương và sinh ngữ từ thời còn học đại học, anh Thân Trọng Sơn cùng nhóm bạn thành lập tờ báo sinh viên, phổ biến những tinh hoa văn chương cho cộng đồng. Cơ duyên này để khi định cư ở Đà Lạt và thôi nghiệp cầm phấn để nghỉ hưu, anh phát huy những thành tựu về dịch thuật. Tháng 9 năm 2020, tôi gặp anh Thân Trọng Sơn để cùng trò chuyện. 

 

Thưa anh Thân Trọng Sơn, tác phẩm dịch của anh được rất nhiều người đọc từ lâu và thích thú. Duyên nào mà anh thuần thục cả ngôn ngữ Pháp và ngôn ngữ Anh vậy?

 

Tôi được tiếp xúc tiếng Pháp và tiếng Anh từ thời học trung học. Lên đại học, tôi vừa học vừa dạy kèm học sinh luyện thi Tú tài 2. Dạy là phương pháp tốt để học ngoại ngữ, đó là kinh nghiệm đầu tiên của tôi. Tốt nghiệp đại học tôi được phân công dạy cả 2 ngoại ngữ nên càng có điều kiện học. Học là để dạy, dạy tức là học. Kinh nghiệm thứ hai là kết hợp việc học chính quy ở trường lớp với việc tự học, nhất là tự học những gì trường không dạy. Kinh nghiệm thứ ba là khi học một ngoại ngữ, nhất thiết phải tìm hiểu về đất nước và con người sử dụng ngôn ngữ đó. Tôi cũng phải nói thêm, vốn tiếng Anh của tôi được bồi đắp thêm chính từ dịch tiếng Pháp. 

 

Hình như anh còn biết cả tiếng Đức nữa? 

 

Năm 1966, tôi có học tiếng Đức, 2 năm. Năm 1986 tôi có học tiếng Nga, một năm. Lười biếng và thiếu nghị lực, tôi không tiếp tục, coi như không biết gì. Tiếc là do không biết nhiều ngoại ngữ nên tôi buộc phải làm việc tối kỵ là có khi phải dịch qua một bản dịch. 

 

Là người có 40 năm đứng trên bục giảng truyền thụ kiến thức cho học sinh, sinh viên, anh chia sẻ một chút vốn liếng nghề dạy học? 

 

Người đi dạy là người đi học suốt đời. Đã đi dạy là chấp nhận tiếp tục học, không thể bằng lòng với tấm bằng đã tốt nghiệp trước đó. Kiến thức của nhân loại vốn là biển lớn không có bờ. Với ngoại ngữ, ngôn ngữ luôn như một hàm thường biến, gọi là “sinh ngữ” nghĩa là luôn phát triển từ mới, nghĩa mới, do cuộc sống không ngừng vận động. Ngày nay, phương pháp dạy học đã khác nhiều, người thầy giáo càng cần thích ứng. Ví dụ, tính tương tác trước đây rất hẹp, chỉ là thầy-trò, bây giờ ngoài thầy-trò còn có trò-thầy, trò-trò… Tính ứng biến, năng lực ứng khẩu của người thầy càng cần nhiều linh hoạt, năng động, thông minh và sáng tạo hơn. Nghề thầy có ảnh hưởng đến nhiều thế hệ. Tôi muốn nói là ngôn ngữ luôn phát triển trong môi trường giao tiếp một cách rất linh động. 

 

Đây cũng là động lực lớn để thầy giáo Thân Trọng Sơn bước sang lĩnh vực dịch thuật một cách đam mê, thưa anh?

 

Tôi tập dịch bài để đăng đặc san thời đi học trung học và đại học. Thập niên 90 của thế kỷ trước, tôi chủ yếu dịch từ tiếng Việt sang tiếng Pháp. Làm việc này, tôi có chủ đích: Tôi không dịch cho bạn đọc người Việt biết tiếng Pháp, đọc vì tò mò, đọc chơi cho biết; nếu thích, họ đọc ngay nguyên bản tiếng Việt, hà cớ gì phải đọc vòng qua bản dịch. Tôi dịch thơ Việt sang tiếng Pháp cốt để những người Pháp và người nói tiếng Pháp (francophones) yêu thơ Việt mà không biết tiếng Việt có cơ hội đọc hiểu được. Tôi dịch sách về văn hóa, lịch sử triều Nguyễn. Sau đó, tôi chuyên dịch từ tiếng Anh, tiếng Pháp ra tiếng Việt. Dịch thơ và dịch văn xuôi, chủ yếu là truyện ngắn.

  






Theo tôi biết, đến nay dịch giả Thân Trọng Sơn đã có hàng trăm tác phẩm thơ, truyện ngắn của các nhà văn, nhà thơ, cả rất nổi tiếng, được giải Nobel và cả những tác giả còn khá xa lạ với bạn đọc Việt Nam. Cùng đó là những bài viết, đặc biệt trước mỗi tác giả hay tập sách, anh có bài giới thiệu rất công phu về tác giả và tác phẩm, như là một chuyên luận, càng dễ cho độc giả khi tiếp cận tác phẩm dịch. Độc giả Nguyễn Âu Hồng có nhận xét: “Chữ nghĩa trong các bản dịch của Thân Trọng Sơn mới mẻ, tươi nguyên và như của riêng ông. Đọc tác phẩm của các tác giả cổ điển, qua bản dịch của Thân Trọng Sơn, ta có cảm giác như ông đang giới thiệu một tài năng mới, kiệt xuất, nhưng còn ẩn danh của Việt Nam”. Còn nhà văn, nhà giáo Nguyễn Văn Uông từng nhận xét “không phân biệt được thơ dịch” của Thân Trọng Sơn. Anh có thể chia sẻ điều này?

 

Tôi dịch thơ vì có người nói thơ là thứ không thể dịch. Tôi cố gắng dịch thơ phải bằng thơ. Chọn từ để vừa sát nghĩa vừa đạt được đặc trưng của thi ca. 

 

Nghĩa là cùng lúc vốn ngoại ngữ và tiếng Việt đều phong phú và cảm thụ cao mới trở thành một bài thơ dịch đạt được chỉnh thể hoàn hảo. Đó là đóng góp không nhỏ của dịch giả Thân Trọng Sơn đem đến bạn đọc Việt Nam những áng thơ, văn xuất sắc của nhiều tác giả từ hàng chục quốc gia của cả 5 châu lục. Xin trân trọng cảm ơn năng lượng lao động sáng tạo của nhà giáo, dịch giả Thân Trọng Sơn! Trước khi dừng cuộc trò chuyện này, anh muốn gửi gắm và tâm tư gì thưa anh?

 

Hiện nay, hàng ngày tôi đều đọc và dịch, đọc nhiều thứ rồi mới dịch. Một thứ thể dục trí tuệ, vì nay cũng có tí tuổi rồi. Để đến với bạn đọc, người sáng tác đi đường thẳng, người dịch thuật đi đường vòng. Trên chiếu văn, người ta xếp anh này khép nép bên rìa, tội nghiệp ha! Tôi có nuối tiếc là, ở Đà Lạt dấu ấn nền văn minh Pháp còn rõ rệt; lại là điểm du lịch rất nổi tiếng, nhưng tiếng Pháp không được phát triển mạnh mẽ như mong muốn…

 

MINH ĐẠO (thực hiện)

,



 


dimanche 11 octobre 2020

HẠNH PHÚC

   




Truyện ngắn

Katherine Mansfield.

Nhà văn New Zealand

(1888-1923)

 


















Kathleen Mansfield Beauchamp sinh tại Wellington, New Zealand ngày 14.10. 1888, và nổi tiếng với bút danh Katherine Mansfield khi viết truyện ngắn. Tuy cuộc đời quá ngắn ngủi ( mất năm 1923 vì bệnh lao ) bà vẫn kịp để lại những tuyển tập trứ danh. Năng khiếu văn chương của bà đã bộc lộ từ thời còn học trung học. 

Những truyện ngắn đầu tiên của bà xuất hiện trên các tạp chí học đường từ 1898 và 1899. Năm sau, bà in truyện “ Cô bạn nhỏ của chàng” ( His Little Friend ) trong tờ New Zealand Graphic and Ladies Journal.


Cùng với các chị em, bà được gởi sang nước Anh học tập gần 4 năm rồi trở về quê hương. Nhưng bà lại muốn quay sang Anh trở lại vì đã bị đời sống văn hoá nơi này chinh phục rồi. Ý muốn này được thân phụ chấp thuận, năm 1908, bà lại sang Anh và không bao giờ trở về New Zealand nữa. Tại xứ sở sương mù, Katherine bắt đầu cuộc sống tự do, phóng khoáng. Bà gặp và lui tới với một người, có thai với người ấy nhưng lại kết hôn với người khác. Bà phá thai và hệ luỵ từ cuộc giải phẫu ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ về sau.


Năm 1911, ở tuổi 23, bà gặp John Middleton Murry, chủ biên một tạp chí văn học. Bà dành hết khoản tiền gia đình cung cấp để đầu tư cho tạp chí. Cả hai cộng tác thực hiện nhiều dự án văn chương, giúp bà thâm nhập văn đàn Luân Đôn. Bà kết thân với nhà văn D.H. Lawrence ( tác giả của Sons and Lovers, Con trai và Người tình ) cả hai trở thành đôi bạn lớn cho đến cuối đời. Thời gian này  Katherine di chuyển qua lại giữa Luân Đôn và Paris , rồi cả Bỉ và Đức.

Bà được chẩn đoán đã mắc bệnh lao. Như để chạy đua với thời gian, bà sáng tác không ngừng, cho ra đời liên tiếp nhiều tuyển tập truyện ngắn, ấn phẩm đầu tiên là “ In a German Pension ( 1911 ), và tiếp theo là  Bliss ( Hạnh phúc ), The Garden Party   ( Bữa tiệc trong  vườn ), được bạn đọc tán thưởng. Bà không muốn vào dưỡng đường điều trị vì ngại mất cảm hứng sáng tác mà chọn một khách sạn vắng vẻ, ở Bandon, Pháp. Ở đây bà tiếp tục viết. Đây là thời gian bà sáng tác truyên “Tôi không nói tiếng Pháp “( Je ne parle pas français ) - nhan đề tiếng Pháp. 


Bà qua đời tại Pháp năm 1923, trong sự luyến tiếc một văn tài vắn số, an táng tại Nghĩa Trang Avon, gần Fontainebleau.


Hiện nay, nhiều trường trung học tại New Zealand có nhà tưởng niệm mang tên bà. Trường  Karori ở Wellington  còn dựng tượng  bà trong sân trường với biển ghi lại thời gian bà theo học ở trường và tóm tắt các tác phẩm. Và ngay trên đất Pháp, thành phố Menton, nơi bà có thời gian sống và sáng tác, có một con đường mang tên bà.



*****


BLISS được giới phê bình xem là một trong những truyện ngắn thành công nhất của Katherine Mansfield . Tuy nhiên, do truyện được viết từ năm 1918, độc giả thời nay, sau hơn một thế kỷ, vẫn thấy truyện của K.M. thuộc loại “khó đọc”. Chẳng hạn chủ đề niềm khát khao  đồng tính chỉ được tác giả đề cập nhạt nhoà thông qua ẩn dụ và lối nói bóng gió. 

Nhân vật chính của truyện, Bertha Young là một thiếu phụ 30 tuổi, làm vợ và làm mẹ, hài lòng với cuộc sống trung lưu viên mãn với chồng Harry và đứa con còn nhỏ của họ. Nhưng rồi, theo diễn tiến của câu truyện, người đọc băn khoăn không hiểu nàng thực sự có hài lòng không. 

Mặc dù Bertha có lặp lại rằng nàng đang tận hưởng niềm hạnh phúc tuyệt vời, nhưng sao mối quan hệ giữa nàng với người vú em chăm sóc con nàng chừng như không thuận lắm khi nàng thấy đứa bé được chăm sóc? 

Và chuyện gì xảy ra khi nàng tỏ ra quyến luyến người phụ nữ xinh đẹp, hấp dẫn Pearl Fulton, khách mời của vợ chồng nàng? Cuối buổi tiệc, khi Harry tiễn khách, chàng thân mật khoác áo choàng qua vai Pearl Fulton thì Bertha biểu lộ sự khó chịu, nghi ngờ.


Câu hỏi ở cuối truyện “ Chuyện gì sẽ xảy ra đây?” là lối kết thúc bỏ lửng, buộc người đọc trở lại từ đầu câu truyện để tự tìm lời giải đáp.



————-




Mặc dù đã ở tuổi ba mươi, Bertha Young vẫn có những khoảnh khắc như bây giờ đây,  nàng thích chạy nhảy thay vì đi bộ, thích nhảy nhót bước thấp bước cao theo lề đường, thích chơi đánh vòng, tung vật gì đó lên trời rồi chụp lấy nó, hoặc đứng yên và cười khanh khách - chỉ thế thôi, chẳng vì cái gì cả. 

Biết làm gì đây khi đến tuổi ba mươi, rẽ lối trên đường về nhà, bất chợt bạn bị choáng ngợp bởi một niềm hạnh phúc - hạnh phúc tột cùng - chừng như bạn mới vừa nuốt một mảng nắng chiều muộn rực rỡ, và nó cháy bừng trong lồng ngực bạn, toả ra những tia lấp lánh khắp châu thân, đến từng đầu ngón tay ngón chân?...

Ôi, có cách nào khác hơn để diễn tả cảm giác ấy mà không tỏ ra “ say khướt và hỗn loạn “ Thời đại văn minh sao mà ngây dại? Tại sao được ban cho một thân thể mà lại phải nhốt kín trong cái hộp như thể  nó là một cây đàn quý hiếm?


“Không, ví như cây đàn cũng không hẳn là điều tôi muốn nói,”nàng thầm nghĩ lúc nhảy từng bước lên bậc cấp và thò tay vào túi xách tìm chìa khóa — thôi lại quên nữa rồi - và khua loảng xoảng hộp thư. “Ý mình không phải vậy, bởi vì - À, cám ơn nhé, Mary” — nàng vào nhà. “Vú em đã về chưa?”

“Thưa cô, đã.”

“Và trái cây đã giao rồi chứ?”

“Vâng, thưa cô. Mọi thứ xong xuôi đâu vào đấy cả rồi.”

“Mang trái cây lên phòng ăn, nhớ nhé? Tôi sẽ chưng mâm quả trước khi lên lầu đấy.”

Phòng ăn mờ tối và lạnh ngắt. Nhưng cũng chẳng sao, Bertha cởi tung áo choàng; nàng không chịu nổi cái gò bó của nó nữa, và hơi lạnh chạm vào cánh tay nàng.


Nhưng trong lồng ngực nàng vẫn còn bừng bừng ngời sáng - cái luồng tia lửa lấp lánh chiếu từ đó. Hầu như chới với. Nàng không dám thở kẻo chúng lại bùng lên, nhưng rồi nàng hít thở thật sâu, thật sâu. Nàng không dám nhìn vào tấm gương lạnh lẽo - song nàng vẫn cứ soi gương, và nó phản chiếu hình ảnh một người đàn bà, rạng rỡ, mỉm cười, bờ môi run run, đôi mắt to tròn đen láy và đang lặng yên chờ đợi một điều gì… một điều gì đó linh thiêng sắp xảy đến… nàng biết nó sẽ đến… không ngờ vực gì nữa.

Mary bưng vào khay trái cây kèm theo chậu thủy tinh và một chiếc đĩa mầu xanh dương tuyệt đẹp, bóng loáng lạ mắt như thể mới nhúng vào sữa.

“Có cần bật đèn không Cô?”

“Thôi, chẳng cần. Tôi vẫn nhìn thấy rõ mà.”

Nào là quýt, táo nhuộm màu dâu đỏ. Vài trái lê vàng mịn như lụa, và nho trắng phủ một lớp phấn bạc và chùm nho lớn màu tím. Nho tím nàng đã cốt chọn cho hoà với màu thảm mới trong phòng ăn. Thế đó, nghe có vẻ hoang đường và kỳ dị sao đâu, nhưng đó chính là lý do khi nàng chọn mua. Lúc ở trong hàng trái cây nàng nhủ thầm: “Mình cần phải có quả tím để nâng thảm lên ngang tầm với mặt bàn chứ.” Quả là hợp tình hợp lý khi ấy.


Khi sắp xếp xong hai tháp trái cây gồm những quả tròn trĩnh mầu sắc rực rỡ, nàng đứng lùi ra xa để ngắm nhìn công trình của mình - một cảnh tượng quá lạ thường. Bởi vì chiếc bàn  ăn đậm màu hầu như hoà tan vào vũng ánh sáng mờ mờ và đĩa chưng thủy tinh cùng với chậu mầu xanh dương như trôi bềnh bồng trong khoảng không. Cảnh tượng này dĩ nhiên đối với tâm tư nàng bấy giờ thật quá tráng lệ… Nàng bật cười.


“Thôi chết. Mình hóa điên mất rồi.” Và nàng chụp vội chiếc xắc tay cùng áo choàng và chạy bay lên lầu vào phòng con.

Bà vú ngồi cạnh chiếc bàn thấp đang cho Bé B ăn sau khi bé tắm xong. Bé mặc áo nỉ màu trắng và áo len màu xanh da trời, và tóc màu thẫm mảnh như tơ chải thành một nhúm ngộ nghĩnh trên chỏm đầu. Bé ngước nhìn và khi thấy mẹ là bắt đầu vùng nhảy lên.

“Chóng ngoan, này cưng, ăn cho hết đi nhé,” bà vú dỗ, trề môi ra hiệu cho Bertha biết ý là nàng đã vào thăm không đúng lúc.

“Bé có ngoan không, Vú?”

“Bé ngoan lắm suốt cả chiều nay,” Vú thì thầm. “Lúc nãy ra chơi ngoài công viên tôi ngồi xuống ẵm bé ra khỏi xe đẩy, có con chó bự tới giụi đầu vào đầu gối tôi và bé nắm lấy tai con chó, giựt giựt. Ôi chao, phải chi cô nhìn thấy bé lúc ấy.”

Bertha muốn hỏi xem khi để bé nắm tai con chó lạ nhỡ có nguy hiểm gì không. Nhưng nàng không dám hỏi. Nàng đứng đó ngắm họ, hai cánh tay buông thõng, giống như một đứa trẻ con nhà nghèo trước một đứa trẻ nhà giàu với con búp bê trên tay.

Đứa bé ngẩng lên nhìn nàng lần nữa, ngó sững, và rồi nhoẻn miệng cười dễ thương quá đến nỗi Bertha phải kêu lên:

“Ồ, Vú ơi, hãy để tôi đút cho cháu ăn nốt nhé, để Vú rảnh tay mà dọn dẹp phòng tắm.”

“Cô à, khi bé ăn mà đổi tay như thế không ổn đâu,” Vú nói, vẫn thầm thì. “Sẽ làm rộn bé; thế nào cũng làm rộn bé.”

Sao mà kỳ khôi. Tại sao có con mà lại giao nó — không phải cất giữ trong hộp như cây đàn hiếm qúy — trong vòng tay một người đàn bà khác nhỉ?

“Ồ, để tôi!” nàng nói.

Không hài lòng mấy, Vú trao bé cho nàng.

“Đấy đấy, đừng có làm bé rối cả lên sau bữa ăn nhé. Cô biết đó. Không thì lát nữa đây tôi phải đến khổ với bé thôi!”

Thật may phước! Vú rời khỏi phòng với mớ khăn tắm.


“Giờ thì chỉ có mẹ con mình thôi, bé cưng của mẹ,” Bertha nói, khi đứa bé ngả người về phía nàng.

Bé ăn nhỏ nhẹ, chìa môi chờ đút và vẫy vẫy đôi bàn tay. Có khi nó ngậm chặt chiếc muỗng không chịu nhả; và có khi Bertha vừa mới múc đầy muỗng, nó quơ tay làm thức ăn văng tung toé.


Cho con ăn xong Bertha xoay về hướng lò sưởi. “Ngoan lắm - Bé ngoan lắm!” nàng vừa nói vừa hôn đứa con ấm áp của nàng. “Mẹ thương con, cục cưng của mẹ.”

Và đúng là như thế, nàng yêu Bé B quá đỗi - cái cổ khi bé nghiêng người về phía trước, mấy ngón chân thanh tú nhìn trong suốt qua ánh lửa lò sưởi - rồi là bao nhiêu cảm giác vui sướng ngây ngất ùa về và một lần nữa nàng không biết diễn tả thế nào - không biết phải làm gì với nó.

“Thưa cô có điện thoại,” Vú nói, đắc thắng quay trở lại và giằng lấy Bé B của nàng.

Nàng chạy bay xuống lầu. À thì ra là Harry.

“Ber đó hả? Em à, anh về muộn đấy. Anh sẽ đi taxi về và sẽ gắng vội, em hoãn bữa ăn lại mười phút nhé? Được không em?”

“Vâng, được mà. Mình ơi!”

“Sao?”

Biết nói gì đây? Nàng chẳng biết nói gì. Nàng chỉ muốn gần kề bên chồng trong giây lát. Nàng không thể nào thốt lên một cách vu vơ: “Ngày hôm nay thần tiên quá!”

“Gì thế em?” loáng thoáng một giọng nhát gừng.

“Vâng, được ạ,” Bertha nói và gác ống điện thoại, thầm nghĩ còn mông muội nào hơn thời đại văn minh.


Họ mời khách đến ăn cơm tối. Ông bà Norman Knights - cặp vợ chồng lịch duyệt - ông chồng sắp sửa mở một hý viện, và bà vợ có khiếu trang hoàng nội thất, một thanh niên, Eddie Warren, người vừa ra mắt một tuyển tập thơ và là người mà ai cũng muốn mời mọc thù tạc, và Pearl Fulton - một khám phá mới của Bertha. Cô Pearl làm nghề gì thì Bertha chưa biết. Họ mới gặp nhau ở một câu lạc bộ và Bertha đã cảm thấy say mê cô ta, bởi nàng vốn dĩ thường say mê những người đàn bà đẹp có chút gì là lạ nơi họ.


Có điều không hay lắm là mặc dù họ đã từng vài lần gặp nhau, từng đi chơi chung và chuyện trò với nhau, Bertha vẫn chưa mảy may biết gì về cô ấy. Với một chừng mực nào đó thì có lúc cô Pearl có vẻ đôn hậu, nhưng chỉ vậy thôi, cô không vượt qua khỏi chừng mực đó.


Có gì ẩn khuất đằng sau thành trì ấy? Harry bảo “Không.” Chàng đan cử cái vẻ ngô nghê của cô ta, và “lạnh lùng như hết thảy mấy kiều nữ tóc vàng, và có lẽ cái bộ não hơi thiếu dinh dưỡng.” Đương nhiên là Bertha không đồng ý với chàng, hay dầu sao nàng cũng chưa vội.

“Không đâu anh, dáng điệu cô ấy ngồi, đầu hơi ngả một bên và miệng mỉm cười, tiềm ẩn một điều gì, Harry à, em quyết tìm cho được xem nó là cái gì.”

“Dễ chừng ấy là cái bụng dạ tốt lành,” Harry trả lời.

Chàng ý nhị nhằm gây sự kinh ngạc khi trả lời nàng đại loại như thế… “can hàn đấy, cưng ơi,” hoặc “bụng đầy hơi,” hay “thận hư,”… Chẳng hiếu sao Bertha lại thấy thích thú, và hầu như rất đỗi ngưỡng mộ cái phong cách ấy nơi chàng.


Nàng vào phòng tiếp khách và nhóm lò sưởi; đoạn, nhặt lấy mấy cái gối bông, từng chiếc một, mà Mary đã bày biện tươm tất, nàng thảy chúng trở lại vào lòng ghế và tràng kỷ. Chỉ có thế mà căn phòng tự dưng thấy linh động hẳn lên. Khi sắp sửa thảy chiếc gối cuối cùng nàng ngạc nhiên khi thấy mình ôm ghì lấy nó vào lòng một cách âu yếm. Nhưng nào nàng có dập tắt ngọn lửa trong lồng ngực được đâu. Ồ, ngược lại là đằng khác!


Khung cửa sổ phòng khách mở ra ban công nhìn xuống khu vườn. Ở cuối góc vườn, bên cạnh bờ tường, cây lê cao mảnh khảnh đơm bông rực rỡ; nó đứng lừng lững, cơ hồ đang trầm tư trên nền trời ngọc bích. Bertha không thể không cảm thấy, cho dù cách xa một khoảng, là nó không có lấy một nụ hoa hay một cánh hoa phai nhạt màu. Phía dưới, trong khu vườn, những luống uất kim hương trĩu hoa vàng đỏ, dường như đang tựa vào bóng tối. Một con mèo xám, bụng kéo lê, đang bò băng qua thảm cỏ, và một con mèo đen — cái bóng của nó — lẽo đẽo theo sau. Cảnh tượng quá mãnh liệt và đột ngột khiến Bertha rùng mình cách lạ thường.

“Cái lũ mèo thật ghê rợn quá!” Nàng lầu bầu, và quay trở vào bắt đầu đi tới đi lui…


Trong căn phòng ấm áp mùi hoa vạn thọ tỏa nồng vô cùng. Có nồng quá không nhỉ? Ồ, không. Rồi như để trấn an, nàng gieo mình xuống lòng tràng kỷ và đưa hai bàn tay lên áp nhẹ vào mắt.

“Tôi đang hạnh phúc — hạnh phúc biết bao!” Nàng thì thầm.

Và dường như trên mí mắt nàng hình ảnh cây lê yêu kiều với những bông hoa nở rộ như là biểu tượng của chính cuộc đời nàng.


Thực sự, vâng, thực sự là nàng có tất cả mọi thứ trên đời. Nàng đương tuổi xuân. Harry và nàng vẫn lửa hương nồng thắm như ngày đầu, vợ chồng sống bên nhau thuận thảo và rất tâm đầu ý hợp. Nàng có một mụn con xinh xắn. Họ chẳng phải bận tâm về tiền bạc. Họ có nhà cửa vườn tược thật đắc ý. Và đám bạn hữu- những người tân tiến, vui nhộn, nào là văn sĩ, họa sĩ, thi sĩ hay những người lịch lãm - đúng là người mà họ thích giao du. Và nào là sách, nào là âm nhạc, và nàng tình cờ tìm được người thợ may tuyệt vời, và họ đi nghỉ hè ở ngoại quốc, và người đầu bếp mới mướn của họ biết làm món trứng chiên tuyệt hảo…

“Mình có khùng không cơ chứ!” Nàng nhỏm dậy; nhưng nàng cảm thấy thật choáng váng, thật mê man. Chắc là tại mùa xuân.

Đúng là tại mùa xuân. Giờ thì nàng mệt nhừ chẳng buồn lê bước lên lầu để thay áo.

Chiếc áo đầm màu trắng, chuỗi cẩm thạch, giầy và vớ màu xanh lục. Nào không phải là không cố ý - nàng đã ngắm nghía bộ trang phục này vài tiếng đồng hồ trước khi đứng bên cửa sổ phòng khách.


Xiêm áo nàng sột soạt bước vào phòng, và nàng hôn bà Norman Knights, đang lúc bà cởi chiếc áo khoác màu cam kỳ lạ có thêu hình mấy con khỉ đen viền quanh gấu và tà áo.

“… Trời hỡi trời! Giới trung lưu thật rõ chán - chẳng có lấy một chút óc khôi hài! Cô à, tôi tới đây được là may mắn lắm đấy -nếu không có ông Norman thần hộ mạng của tôi đây. Bởi vì mấy con khỉ cưng của tôi làm cho cả đoàn tầu hỏa phát khùng đến nỗi nó thách thức một gã đàn ông cứ quấy nhiễu tôi bằng mắt. Không cười - không thấy buồn cười - rằng tôi đáng yêu. Không, chỉ nhìn trân trối - và làm tôi chán ngấy.”

“Nhưng tuyệt nhất là,” Norman nói, tay ấn cái gọng kính đồi mồi to bản vào mắt, “mình không ngại tôi kể chuyện này đó chứ, hả Face?” (Ở nhà và trước mặt bạn bè họ gọi nhau là Face và Mug) “Tuyệt nhất là khi no nê rồi bả quay sang bà bên cạnh hỏi: ‘Bà có thấy khỉ bao giờ chưa?'”

“Thế đấy!” Bà cười hòa theo. “Thế có tuyệt không cơ chứ?”

Buồn cười hơn nữa là khi đã trút bỏ áo choàng bà trông giống như một con khỉ thông minh biết kết vỏ chuối thành cái áo đầm bằng vải lụa mầu vàng kia. Và đôi khuyên tai ngọc hổ phách của bà trông giống như mấy hạt đậu lủng lẳng.

“Đây là tiên bị sa xuống trần!” Mug nói khi đứng dừng lại trước cái xe nôi của Bé B. “Khi xe nôi lăn vào sảnh đường…” và ông buông lửng câu.


Chuông reo. Đó là Eddie Warren, với dáng dấp nho nhã xanh xao như thường lệ, bộ điệu đau khổ.

“Đây có đúng nhà không nhỉ?” cậu hỏi, giọng khẩn khoản.

“Ồ, tôi mong là thế - tôi ước là thế,” Bertha reo lên.

“Tôi vừa mới bị một phen khốn đốn với gã tài xế tắc xi; cái thằng mắc dịch. Tôi không cách nào bảo hắn dừng xe. Tôi càng gõ càng gọi chừng nào thì hắn ta càng phóng nhanh chừng nấy. Và dưới ánh trăng cái bóng dị hợm với cái đầu dẹp lép chúi xuống bánh lái nhỏ xíu xiu…”

Cậu rùng mình, tháo tấm khăn quàng lụa bạch to bản. Bertha để ý thấy đôi vớ của cậu cũng màu trắng - rất điệu đàng.

“Cơ khổ!” nàng thốt lên.

“Vâng, thật vậy,” Eddie nói, bước theo nàng vào  phòng. “Tôi thấy tôi đang lao vào cõi Vĩnh Cửu trên chuyến xe vô tận.”

Anh ta quen biết vợ chồng Norman Knights. Kỳ thực, anh ta sắp sửa viết một kịch bản cho họ khi chương trình dựng kịch trường của họ được hoàn tất.

“Kìa, Warren, vở kịch viết tới đâu rồi?” ông Norman Knights nói, gỡ gọng kính ra cho con mắt được trồi lên trước khi nó lại bị đè xuống.

Và bà Norman Knights: “Ồ, cậu Warren, vớ trông vui mắt nhỉ?”

“Bà thích làm tôi vui lắm,” cậu nói, mắt đăm đăm nhìn xuống chân. “Chúng dường như trắng ngời thêm từ lúc trăng lên.” Và cậu ta hướng khuôn mặt trẻ trung thuôn thuôn sầu muộn về phía Bertha. “Trăng ở ngoài kia, chị biết chứ.”

Nàng chực òa khóc: “Chắc chắn là thế - thường khi!”

Cậu ta khôi ngô nhất trong đám. Nhưng Face cũng vậy, khom người trước lò sưởi dưới lớp áo da vỏ chuối, và Mug cũng thế, phì phèo hút thuốc và vừa búng tàn thuốc vừa nói: “Sao mà chú rể nấn ná lâu thế?”

“Ổng kia rồi.”

Cánh cửa chính mở tung rồi đóng sầm lại. Harry hô rổn rảng: “Xin tổng chào mọi người. Tôi xuống liền tức thì.” Và họ nghe tiếng chàng chạy ào lên thang lầu. Bertha không khỏi mỉm cười; nàng biết chàng thích làm những công việc gấp gáp. Thêm năm phút có đáng gì đâu nhỉ? Nhưng chàng cứ giả vờ với chính mình rằng nó tối ư quan trọng. Và rồi chàng cứ phong thái trịnh trọng bước vào phòng khách thật ung dung tự tại.

Harry yêu đời. Ồ, nàng thích điều đó nơi chàng biết bao. Và sự đam mê phấn đấu của chàng - bởi chàng tìm thấy trong mỗi thứ mà chàng phải đương đầu, sự thử thách sức lực và lòng dũng cảm của chàng - điều đó, nàng cũng hiểu. Cho dù nó khiến chàng đôi khi, dưới mắt mọi người, khi họ không biết nhiều về chàng, hơi lập dị có lẽ… Bởi có những lúc chàng lao vào vòng chiến giả tưởng… Nàng nói nói cười cười hầu như quên bẵng cho đến khi chàng vào phòng (y như nàng tưởng tượng) là Pearl Fulton chưa đến.

“Không chừng cô Fulton đã quên khuấy?”

“Anh cũng nghi vậy,” Harry nói. “Cô ấy có gọi điện thoại không em?”

“A! Taxi tới rồi kia.” Và Bertha mỉm cười, nụ cười ra dáng chủ nhân khi những vị nữ khách mới khám phá của nàng hãy còn mới lạ và bí ẩn. “Cô ấy cứ ở suốt trong xe taxi.”

“Vậy thì cô ấy sẽ chóng phì,” Harry trầm tĩnh nói, tay rung chuông gọi bữa. “Đàn bà tóc vàng thì khiếp lắm.”

“Harry - Đừng anh!” Bertha nhắc chừng, bụng cười thầm về chàng.


Khoảnh khắc kế tiếp, trong lúc chờ đợi, họ chuyện vãn cười đùa, không chút ý tứ và hơi có vẻ phóng túng. Và rồi cô Fulton, với trang phục tuyền một mầu nhũ bạc, bandeau cũng màu bạc buộc mái tóc vàng nhạt, mỉm cười đi vào, đầu nghiêng nghiêng một bên.

“Tôi đến muộn phải không?”

“Không đâu, không muộn chút nào,” Bertha nói. “Mời cô.” Nàng quàng tay cô và họ bước vào phòng ăn.

Cái gì ở trong sự đụng chạm cánh tay đó đã quạt bùng lên — ngọn lửa đam mê bắt đầu bừng cháy mà Bertha chẳng biết làm gì với nó đây?

Cô Fulton không nhìn nàng; vả chăng, họa hoằn cô mới nhìn thẳng ai. Mi mắt trĩu mơ màng và nụ cười nửa miệng khi ẩn khi hiện trên môi như thể cô hiện hữu chỉ để lắng nghe hơn là nhìn ngắm. Nhưng Bertha biết, thốt nhiên, chừng như - qua ánh mắt âu yếm và quyến luyến, họ đã bảo nhau: “Chị cũng thế đấy ư?” 

- rằng Pearl Fulton, đang quậy quậy món súp mầu đỏ trong đĩa xám, cũng đang đồng cảm với nàng.


Và những người khác thì sao? Face và Mug, Eddie và Harry, muỗng của họ nâng lên đặt xuống - khăn ăn chậm lên môi, bánh mì bẻ vụn, ly nĩa khua lơ đãng và chuyện trò.

“Tôi gặp cô ấy ở buổi triển lãm Alpha - một người nhỏ nhắn dị kỳ nhất. Không những tóc cô ta cắt ngắn, mà dường như chân tay, cần cổ và cả cái mũi nữa cũng bị xén cụt ngủn luôn.

“Có phải cô ấy rất thân thiết với Michael Oat?”

“Người viết cuốn Tình Yêu trong Hàm Răng Giả?”

“Ổng muốn soạn một vở kịch cho tôi. Vở kịch một màn cho một người diễn. Quyết định quyên sinh. Nêu đủ mọi lý do tại sao nên và không nên. Và vừa khi nhân vật vừa quyết định xong thì hạ màn. Cốt truyện không đến nỗi tệ lắm.”

“Vậy ổng đặt tên cho nó là gì - ‘Bệnh Bao Tử’ ư?”

“Tôi nghĩ tôi đã đọc cũng cái ý đó đâu trong một bài phê bình tiếng Pháp, tuyệt nhiên chưa biết đến ở Anh quốc.”


Không, họ chưa hề tỏ lộ. Họ là những người khách mà nàng quý chuộng và thích được chiêu đãi họ với những thức ăn ngon rượu quý ở nhà nàng. Thật vậy, nàng mong được nói với họ rằng họ đáng yêu biết bao, và nhóm bạn của nàng thanh lịch biết bao, những người bạn đồng điệu khiến nàng liên tưởng đến một vở kịch của Tchekof!


Harry ăn ngon miệng. Ít nhiều chàng thường - vâng,  không hẳn là bản tính, cũng chẳng phải là bộ điệu của chàng - đề cập đến các món ăn và hết lời ca ngợi cái “đam mê không ngượng ngùng mầu sáng ngời của con tôm hùm” và cái “mầu xanh rêu của đá bào làm bằng hạt dẻ - xanh và lạnh như mí mắt của các vũ công Ai Cập.”

Khi chàng ngước nhìn nàng và nói: “Bertha à, món trứng rán phồng này ngon dễ nể!” nàng suýt khóc hồn nhiên thoả thuê.

Trời ơi, sao đêm nay nàng cảm thấy cuộc đời dịu dàng quá đỗi? Mọi thứ đều tuyệt diệu. Tất cả mọi diễn biến như rót tràn đầy một lần nữa ly rượu sóng sánh hạnh phúc của nàng.

Và, trong tiềm thức nàng, hình ảnh cây lê vẫn hiện diện. Nó bây giờ hẳn đã nhuộm màu bạc, dưới ánh trăng của anh chàng Eddie tội nghiệp, ngời ánh nhũ như cô Fulton - cô đang ngồi đó mân mê trái quýt trong mấy ngón tay mỏng mảnh và nhợt nhạt tựa hồ có luồng ánh sáng toả chiếu từ đấy.


Cái mà nàng chưa thể thấu hiểu - cái điều kỳ diệu - là làm sao mà nàng ước đoán được tâm tư cô Fulton chính xác và chớp nhoáng đến như vậy. Bởi vì nàng không chút ngờ vực rằng mình đúng, nhưng rồi nàng phải tiếp tục thế nào đây? Chịu thôi.

“Chắc điều này hiếm có khi nào xảy ra giữa phụ nữ với nhau. Với đàn ông thì chắc chẳng bao giờ,” Bertha thầm nghĩ, “Nhưng khi mình pha cà-phê trong phòng khách có lẽ cô ấy sẽ ra ám hiệu cho mình.”

Điều đó có ý nghĩa gì nàng không biết, và chuyện gì xảy ra sau đó nàng chẳng thể ngờ.

Đang lúc nghĩ ngợi như thế nàng thấy mình nói nói cười cười. Nàng phải nói vì nàng thèm được cười.

“Nếu không được cười chắc là mình chết mất thôi.”


Nhưng khi nàng bắt gặp Face theo thói quen đang loay hoay độn cái gì đó trước ngực - làm như bà ấy đang lén giấu một mớ hạt  ở đấy - Bertha phải bấm mấy đầu móng tay vào bàn tay - để đừng cười nhiều quá.

Cuối cùng thì cũng xong. “Mời mọi người vào xem cái máy pha cà-phê mới của tôi,” Bertha nói.

“Cứ mỗi hai tuần tụi tôi chỉ sắm máy mới một lần,” Harry nói. Lần này Face quàng tay nàng; cô Fulton nghiêng nghiêng đầu nối gót theo vào.


Trong phòng tiếp khách, ánh lửa trong lò sưởi tàn dần thành một khối châu sa chập chờn như “tổ chim phượng hoàng non,” Face nói.

“Hãy khoan, đừng bật đèn vội. Thật là dễ chịu quá.” Và nàng lại ngồi thu mình trước lò sưởi. Nàng luôn cảm thấy lạnh… “nếu không có chiếc áo dạ mầu đỏ này, dĩ nhiên,” Bertha nghĩ thầm.


Ngay khi ấy cô Fulton ra ám hiệu.

“Chị có một khu vườn chứ nhỉ?” một giọng nói ngái ngủ trầm trầm cất lên.

Có cái gì thật huyền diệu nơi cô ấy khiến tất cả những gì Bertha có thể làm được chỉ là sự tuân phục. Nàng đi băng qua gian phòng, kéo giạt tấm màn, và mở tung cánh cửa sổ.

“Đấy!” nàng thở ra.


Và hai người đàn bà đứng kề bên nhau ngắm nhìn cây hoa rực rỡ và mảnh khảnh. Mặc dầu nó tĩnh lặng nhưng cơ hồ, tựa như ngọn lửa nến, đang rướn mình chỉa thẳng, run rẩy trong khoảng không sáng ngời, mỗi lúc mỗi vươn cao thêm đang lúc họ ngây ngất nhìn - như sắp chạm vào vành trăng bạc.

Họ đã đứng đó bao lâu rồi? Cả hai, như thế đó, chìm đắm trong vũng ánh sáng kỳ ảo, hiểu thấu lòng nhau, là tạo vật của một thế giới nào khác, và tự hỏi họ đang làm gì trong thế giới này với cả một kho tàng hạnh phúc đang âm ỉ cháy trong lồng ngực và đang lả tả từng bông hoa ngân nhũ rơi từ tóc từ bàn tay của họ?

Vĩnh viễn - hay chỉ  trong thoáng chốc? Và cô Fulton thầm thì: “Vâng. Như thế đấy.” Hay phải chăng Bertha đang mơ?


Rồi ánh đèn bật sáng và Face đã pha xong cà-phê và Harry bảo: “Bà Knight thân yêu ơi, xin đừng hỏi han gì về cháu bé của tôi. Tôi có trông thấy nó bao giờ đâu cho tới chừng nào nó cặp bồ,” và Mug gỡ cái tròng kính ra khỏi mắt một lát rồi lại gắn vào và Eddie uống cạn tách cà-phê và đặt tách xuống với vẻ mặt ảo não như thể chàng ta đang say và vừa nhác thấy con nhền nhện.

“Cái mà tôi muốn làm là cống hiến một kịch trường cho đám thanh niên. Tôi tin rằng thủ đô Luân Đôn có đầy dẫy những vở kịch thượng thặng chưa ra lò. Tôi muốn nói với họ rằng: ‘Sân khấu đây rồi. Xin cứ thi thố.”‘

“Anh biết không, tôi sắp sửa trang hoàng một căn phòng cho Jacob Nathans. Ồ, tôi khoái họa kiểu mẫu cá chiên, lưng ghế hình chảo và những tấm màn thêu đầy hình khoanh bánh khoai mỏng mỹ miều.”

“Cái rắc rối với mấy nhà soạn kịch trẻ của chúng ta là họ còn mơ mộng quá. Bạn không thể ra khơi mà ngại bị say sóng hay thiếu cái chậu thau. Ừ nhỉ, tại sao họ không can đảm như mấy cái chậu thau đó?”

“Một bài thơ tệ hại về một cô gái bị thất tiết bởi một gã hành khất không có lỗ mũi trong khu rừng nhỏ…”


Cô Fulton ngồi lọt thỏm trong chiếc ghế thấp nhất và sâu nhất và Harry đưa thuốc lá lần lượt mời mọi người.

Dựa vào điệu bộ mà chàng đứng trước mặt cô lắc lắc chiếc hộp bằng bạc và nói cộc lốc: “Ai Cập? Thổ Nhĩ Kỳ? Virginia? Lộn xà ngầu,” Bertha hiểu ra rằng không những cô đã làm cho chàng chán; chàng thật sự cũng không ưa cô. Và nàng quyết đoán qua cách cô Fulton nói: “Không, cảm ơn, tôi không hút thuốc lá,” rằng cô cũng cảm thấy điều đó và bị tổn thương.


“Ồ, Harry, đừng ghét bỏ cô ấy chứ. Anh hoàn toàn hiểu lầm về cô ấy. Cô ấy thật tuyệt vời. Và, hơn nữa, sao anh có thể hiểu khác về một người mà em rất mực quý mến. Đêm nay trong khuê phòng em sẽ ráng kể cho anh nghe những gì đang xảy ra — những gì mà cô ấy và em đã san sẻ cho nhau.”

Với những lời tự nhủ đó có cái gì kỳ lạ và gần như kinh dị lao vào tâm trí Bertha. Và cái gì đó mù lòa mỉm cười thì thào với nàng: “Lát nữa đây khách sẽ ra về. Căn nhà sẽ yên ắng. Đèn sẽ tắt. Và riêng bạn với chàng trong phòng tối — gối chăn ấm nồng…”

Nàng đứng bật dậy khỏi lòng ghế và chạy bay đến bên chiếc đàn dương cầm.

“Tiếc thay đàn chẳng ai chơi!” nàng kêu thảng thốt. “Tiếc thay đàn chẳng ai chơi.”


Đây là lần đầu tiên trong đời Bertha Young cảm thấy khao khát chồng nàng. Ôi, nàng vẫn yêu chàng - tất nhiên nàng vẫn hằng say mê chàng, đủ mọi cách khác, nhưng không giống như bây giờ. Và tương tự, tất nhiên, nàng hiểu rằng chàng khác mình. Họ thường tâm sự với nhau. Thoạt đầu khi nghiệm ra mình lãnh cảm nàng đã lo âu sầu muộn, nhưng dần dà điều đó không còn đáng để tâm nữa. Họ đối xử với nhau rất chân tình - như đôi bạn tri kỷ. Đấy là cái tuyệt luân của đời sống mới.

Nhưng giờ đây - nồng nàn! nồng nàn! Chữ đó rạo rực khắp châu thân! Phải chăng đây là cái cảm giác tuyệt đỉnh của hạnh phúc? Ấy thế mà rồi - “Cô à,” bà Norman Knight nói, “khốn nỗi, tụi tôi ở Hampstead, bị bó buộc bởi giờ giấc và xe lửa. Tối nay vui quá thể.”

“Để tôi tiễn chân ông bà,” Bertha đáp. “ Ông bà đến tôi rất vui. Nhưng không thể lỡ chuyến tàu cuối cùng. Tiếc quá nhỉ?”

“Hãy uống một ly whisky rồi hẵng về?” Harry gọi.

“Thôi, cám ơn ông bạn vàng.”

Khi bắt tay chào Bertha xiết nhẹ bàn tay khách.

“Tạm biệt nhé,” nàng kêu lên từ đỉnh bậc cấp, tưởng chừng như chính mình phải rời xa họ mãi mãi.


Nàng trở vào  phòng khách khi những vị khách kia đang sửa soạn ra về.

“… Thì anh cứ đi chung một đoạn đường với tôi.”

“Xin đa tạ cô, thế thì đỡ cho tôi khỏi phải chịu trận một lần nữa, sau chuyến xe kinh hoàng ban nãy.”

“Có thể đón xe taxi ở bến xe cuối ngõ. Đi bộ mươi bước là tới.”

“Vậy thì tốt lắm. Để tôi mặc áo khoác vào đã.”

Cô Fulton tiến ra mé cửa và Bertha nối gót theo sau vừa lúc Harry hầu như lấn bước vượt lên trước.

“Để anh.”


Bertha biết rằng chàng đang đền bù hành vi khiếm nhã của mình - nàng dừng lại nhường bước. Trong cung cách nào đó chàng như đứa trẻ - quá bốc đồng - quá giản dị.

Chỉ còn Eddie và nàng bên lò sưởi.


“Chẳng hay chị đã đọc bài thơ mới ra lò của Bilks nhan đề Thực Đơn Cố Định chưa,” Eddie nói nhỏ nhẹ. “Thực là một tuyệt tác. Trong tuyển tập cuối. Chị có tập thơ đó không? Tôi rất muốn giới thiệu bài thơ đó đến chị. Bài thơ bắt đầu bằng một câu quá ư tuyệt vời: ‘Vì Sao Mãi Mãi Phải Là Canh Cà Chua?'”

“Vâng,” Bertha nói. Và nàng bước khẽ đến bên chiếc bàn đối diện với  phòng tiếp khách và Eddie lướt nhẹ theo sau. Nàng cầm cuốn sách nhỏ và đưa cho cậu; họ tuyệt nhiên không gây một tiếng động nào.

Trong khi cậu lật tìm bài thơ nàng ngoảnh đầu nhìn về phía  phòng tiếp khách. Và nàng thấy… Harry với chiếc áo khoác của cô Fulton vắt trên tay và cô Fulton quay lưng về phía chàng và đầu cô nghiêng nghiêng. Chàng quẳng chiếc áo, đặt hai tay lên vai cô và xoay người cô về phía chàng một cách thô bạo. Môi chàng mấp máy: “ Tôi ngưỡng mộ cô “ và cô Fulton khẽ đặt mấy ngón tay ngời ánh trăng lên hai má chàng và mỉm nụ cười ngái ngủ . Cánh mũi run run, miệng cười nhăn nhở khi chàng thì thào: “Mai nhé,” và qua rèm mi cô Fulton nói: “Vâng.”

“Đây rồi,” Eddie nói. “‘Vì Sao Mãi Mãi Phải Là Canh Cà Chua?’ Quả là chí lý, chị có cảm thấy vậy không? Canh cà chua vĩnh cửu muôn đời.”

“Nếu cô muốn,” giọng Harry dõng dạc vọng từ tiền sảnh, “Tôi có thể gọi xe đến rước cô tận cửa.”

“Ồ, thôi. Không dám làm phiền anh,” cô Fulton nói, và cô tiến lại gần Bertha đưa mấy ngón tay mảnh mai cho nàng cầm lấy.

“Chào chị. Cám ơn chị rất nhiều.”

“Chào cô,” Bertha nói.

Cô Fulton cầm tay nàng thêm một lát nữa.

“Cây lê yêu kiều của chị!” cô thầm thì.


Và rồi cô đi khuất, với Eddie nối gót theo sau, như con mèo đen theo sau con mèo xám.

“Mình đóng cửa tiệm là vừa,” Harry nói, thật ung dung tự tại.

“Cây lê yêu kiều của chị - cây lê - cây lê!”

Bertha chạy bay đến bên khung cửa sổ.

“Ôi, chuyện gì sẽ xảy ra đây?” nàng thảng thốt.


Nhưng cây lê vẫn yêu kiều như lâu nay, vẫn rực rỡ hoa và vẫn tĩnh lặng.



Nguồn


https://americanliterature.com/author/katherine-mansfield/short-story/bliss



THÂN TRỌNG SƠN

dịch và giới thiệu

( tháng 10/2020 ).