mercredi 18 octobre 2017

CHA VÀ CON GÁI






Con gái còn nhỏ mà năm nào cha cũng đi xa. Để cha viết cho con vậy.

" Cha hái cho con bông hoa này trên cồn cát... Bông hoa dại tưới bằng sóng nước đại dương... Sau đó, thiên thần của cha ơi, cha đã viết tên con trên cát: DIDI. Đêm nay sóng nước sẽ xoá sạch đi, nhưng có một thứ không có gì xoá được, là tình yêu cha dành cho con đó. (...) "

" Tạm biệt con, Didi của cha. Con giữ thư này lại nhé. Khi con lớn lên, cha sẽ già đi, con đưa thư cho cha xem và cha con ta sẽ yêu thương nhau nhiều, rồi đến khi con già, cha không còn nữa, con sẽ đưa thư cho các con của con xem, chúng sẽ yêu con như cha yêu con vậy. Hẹn con lần sau."


Didi, Didine, là tên thân mật. Tên thật của con gái dài lắm, Léopoldine Cécile Marie-Pierre Catherine Hugo. Con gái thứ hai, nhưng vì anh trai vắn số, chỉ thấy mặt trời được 5 tháng nên con gái thay làm trưởng, và, tất nhiên rồi, được cha cưng chiều lắm. Con gái thường quấn quít bên cha và lớn lên trong không khí gia đình văn nghệ sĩ, với sự hiện diện thường xuyên của các nhà văn, nhà thơ như Théophile Gautier, Lamartine, Georges Sand, Balzac...

Con gái lớn nhanh, và biết yêu sớm.  Mùa hè năm 1839, khi mới 14 tuổi, nhân dịp cùng cả nhà đến thăm người bạn của gia đình, là chủ tàu buôn ở le Havre, con gái gặp con trai chủ nhà, Charles Vacquerie, 21 tuổi, và cả hai cùng bị tiếng sét ái tình ngay lần đầu gặp gỡ này và muốn tiến xa.

Cha nghĩ là con gái còn nhỏ quá nên chưa tán thành việc hôn nhân. Cha không thích chàng trai kia lắm, cha thấy hắn có vẻ tẻ nhạt, hơi nhu nhược và nhất là chẳng có chút kiến thức văn chương, trong khi con gái thật thông minh, linh hoạt. Nhưng rồi cũng chỉ trì hoãn được 5 năm. Hôn lễ tổ chức tại nhà thờ Saint-Paul  ngày 15 tháng 2 năm 1843, khi con gái được 19 tuổi.

Ngày hôm đó, ngay trong nhà thờ, cha viết cho con một bài thơ ( bởi cha là nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch, nhà chính trị Victor Hugo ) bày tỏ nỗi niềm " hạnh phúc đớn đau " khi giao con gái yêu quý của mình cho người khác  ( bonheur désolant de marier sa fille):

" Aime celui qui t’aime, et sois heureuse en lui !
Adieu !- sois son trésor, ô toi qui fus le nôtre !
Va, mon enfant chéri, d’une famille à l’autre.
Emporte le bonheur et laisse-nous l’ennui !

Ici, l’on te retient ; là- bas on te désire.
Fille, épouse, ange, enfant, fais ton double devoir.
Donne-nous un regret, donne lui un espoir.
Sors avec une larme ! entre avec un sourire !"


Dịch nghĩa:

" Hãy yêu người yêu con, cùng sướng vui bên người ấy
- Tạm biệt - hãy là kho báu nhà người, nhé con, kho vàng bao ngày nhà ta,
Con gái yêu ơi, từ nhà này chuyển sang nhà kia, 
Cứ đi, đem theo hạnh phúc,  buồn lo hãy để lại nhà !

Nơi đây, muốn  giữ con lại,  ở kia, mong đón con về
Con thảo, vợ hiền, thiên thần, trẻ nhỏ, bổn phận đôi bên hãy lo tròn,
Để lại  nhung nhớ, mang tới ước mong,
Bước ra lệ tràn khoé mắt! Đi vào nụ cười trên môi! "


Tình cảm quyến luyến, lời dặn dò tiễn con đi, tưởng đâu chỉ có ở người phụ nữ, như trong bài Lòng mẹ của Nguyễn Bính:

        Gái lớn ai không phải lấy chồng
        Can gì mà khóc, nín đi không!
        Nín đi, mặc áo ra chào họ
        Rõ quý con tôi, các chị trông!

        (...)

        Ðưa con ra đến cửa buồng thôi,
        Mẹ phải xa con, khổ mấy mươi!
        Con ạ! đêm nay mình mẹ khóc
        Ðêm đêm mình mẹ lại đưa thoi.

Vậy mà, ở đây người cha cũng chẳng khác:

" Tôi buồn lắm, cái buồn sâu lắng, khác nào tình cảm của người trồng hoa khi khách qua đường ngắt đi đoá hoa của mình. Lúc nãy, tôi đã khóc..."

Bài thơ không có nhan đề, sau này in lại trong tập Contemplations  ( Trầm tư ) chỉ ghi là " 12 février 1843 ".

Vì không có nhan đề nên đã có lúc, thoát khỏi hoàn cảnh xuất xứ của bài, có người đã giới thiệu nó như lời nhắn gởi cô dâu mới ( À une jeune mariée ) và mang ra đọc trong các tiệc cưới, có thể kèm theo bản dịch của Lãng Nhân Phùng Tất Đắc:

Đáp lòng yêu tân lang,
Hạnh phúc cùng chia xẻ,
Con đến chốn người thương
Như ở đây ta quý.



Bước sang thềm nhà chồng
Con cho người hoan hỉ.
Ở nhà ta ra đi,
Ưu tư, con luống để.


Nhà ta giữ con lại,
Nhà người đứng trông chờ.
Đấy, làm con làm vợ,
Đây, thiên thần, trẻ thơ :
Con ơi, nhớ bổn phận,
Đôi vai chớ hững hờ ...


Cho ta chút luyến tiếc,
Cho người một ước mong.
Rời đây tuôn giọt lệ,
Sang đó nở  môi hồng ...

(Gửi Cô Dâu Mới, bản dịch của Lãng Nhân Phùng Tất Đắc – 1907- )



 Rồi cha vẫn tiếp tục sự nghiệp văn chương của mình, còn con gái cùng chồng về xứ. Mọi việc sẽ êm xuôi nếu không có cái ngày 4 tháng 9 định mệnh đó.


Ngày 4 tháng 9 năm 1843.
Sáng sớm, Charles Vacquerie chuẩn bị đi gặp luật sư để hỏi về thủ tục thừa kế. Nơi đến cách nhà vài cây số, ven sông Seine. Cùng đi là ông chú, Pierre Vacquerie, và con trai của chú. Léopoldine không tháp tùng vì chuẩn bị chưa xong. Cả ba khởi hành trên chiếc thuyền buồm ông chú mới tậu, hẹn sẽ về kịp bữa ăn trưa. Một lát sau, thuyền quay trở lại để trang bị thêm tải trọng dằn cho vững hơn. Léopoldine lúc này đã sẵn sàng ngỏ ý muốn đi cùng. ( Ôi! Định mệnh trớ trêu! )
Sau khi đến nơi, làm việc xong, vị luật sư đề nghị mọi người trở về bằng xe ngựa vì trời lặng gió, thuyền buồm di chuyển chậm, sẽ về rất trễ. Tuy nhiên đoàn khách không chịu và vẫn đi thuyền về.

Chú Pierre, cựu thuỷ thủ, cầm lái điều khiển con thuyền êm ả lướt về. Đến khúc sông giữa hai ngọn đồi, một cơn lốc mạnh bất ngờ đập trên cánh buồm khiến con thuyền lật úp. Hai cha con người chú bị cuốn trôi. Dân trên bờ bên kia thấy có người nhô lên ngụp xuống nơi chiếc thuyền, cứ tưởng là trò đùa nghịch, nào hay đó là những nỗ lực của anh chồng muốn nắm lấy tay vợ kéo lên vì quần áo Léoploldine vướng vào đáy thuyền cột chặt lấy cô. Tuy biết bơi rất giỏi, anh vẫn không thể cứu được vợ và đành  chấp nhận buông xuôi để dòng nước cuốn theo. 

Léopoldine lúc này mới 19 tuổi và lấy chồng chưa đầy 7 tháng.

Khi con gái gặp nạn, cha đang cùng nhân tình ( Juliette Drouet ) du lịch tận miền Nam, và năm ngày sau, lúc đọc báo mới biết được tin dữ. Cha trở về Paris thì con gái đã yên nghỉ tại nghĩa trang Villequier, trong cùng huyệt mộ với chồng. Ba năm sau, cha mới có dịp về thăm mộ con gái, nhìn tấm bia khắc tên đôi vợ chồng trẻ, ngày cưới và ngày mất.

Suốt nhiều năm sau khi con gái bị nạn, cha không công bố thêm tác phẩm nào. Năm 1845, cha bắt đầu đi vào chính trị. Năm 1848, ông được bầu làm nghị sĩ hội đồng lập hiến. Ông lên án cuộc đảo chính ngày 2 tháng 12 năm 1851 của hoàng tử Louis-Napoléon (cháu của Napoléon Bonaparte). Ngay lập tức, Ông bị buộc đi đày ở Bỉ, sau đó là đảo Jersey và Guernesey.

Mãi đến 1853 cha mới cho ra đời tập thơ: "les Châtiments", và sau đó "les Contemplations" (1856) và  tiểu thuyết les Misérables (1862) . 

Cha dành cuốn số 4  ( 17 bài ) trong sáu cuốn của tập thơ les Contemplations để viết về con gái, kỷ niệm ấu thơ, chiêm nghiệm về tình yêu, lẽ sống và cõi chết. Bài thơ viết trong nhà thờ ngày con gái vu quy nói trên ( 12 février 1843 ) được in kèm với bài 4 septembre 1843 là trang giấy trắng, với một dòng gồm những dấu chấm lửng.

Cũng trong tập này, có bài thơ không tên, thường được nhắc tới với mấy chữ đầu tiên là Demain, dès l'aube:

Demain, dès l'aube, à l'heure où blanchit la campagne,
Je partirai. Vois-tu, je sais que tu m'attends.
J'irai par la forêt, j'irai par la montagne.
Je ne puis demeurer loin de toi plus longtemps.

Je marcherai les yeux fixés sur mes pensées,
Sans rien voir au dehors, sans entendre aucun bruit,
Seul, inconnu, le dos courbé, les mains croisées,
Triste, et le jour pour moi sera comme la nuit.

Je ne regarderai ni l'or du soir qui tombe,
Ni les voiles au loin descendant vers Harfleur,
Et quand j'arriverai, je mettrai sur ta tombe
Un bouquet de houx vert et de bruyère en fleur.

Dịch nghĩa:
                                    

Ngày mai, ngay lúc rạng đông, khi vùng quê bừng sáng,
Cha sẽ lên đường. Con thấy không, cha biết con đang chờ đợi cha
Cha sẽ đi qua rừng, cha sẽ đi qua núi.
Cha không thể nào ở xa con lâu hơn nữa.


Cha sẽ bước đi, mắt chìm sâu trong suy tưởng
Không nhìn quanh, chẳng nghe động tĩnh chi,
Cô đơn, lạc lõng, lưng khòm, tay chắp,
Sầu đau, với cha ngày cũng sẽ như đêm.


Cha sẽ không ngắm ánh chiều vàng đang xuống,
Cũng không nhìn những cánh buồm xa thẳm hướng Harfleur,
Và khi tới, cha sẽ đặt  trên mộ con
Chùm ô rô xanh lá và thạch thảo trổ hoa.

( Dịch sang tiếng Việt nên je - tu phải viết ngay là cha - con. Đọc nguyên bản tiếng Pháp, với những câu như " je sais que tu m'attends ", " Je ne puis demeurer loin de toi plus longtemps " ..., cho đến hết câu thứ 10, người đọc dễ cảm nhận đây là cuộc hẹn hò của đôi tình nhân.
Đến hai câu cuối
Et quand j'arriverai, je mettrai sur ta tombe
Un bouquet de houx vert et de bruyère en fleur.
thì mới bàng hoàng vì cuộc hẹn hò đặc biệt này. )



Bản dịch của Trần Mai Châu 

Cha đã biết ngày mai con đợi 
Nên khởi hành lúc mới rạng đông 
Quá dài ngày tháng chờ trông 
Xăm xăm vượt núi băng rừng đến con. 

Đầu óc cha dập dồn mọi nỗi 
Mắt biếng nhìn tai mỏi không nghe. 
Tay khoanh đầu cúi ủ ê 
Một mình ngày nắng khác gì đêm mưa. 

Cha không thấy trời vừa chạng vạng 
Mấy cánh buồm ghé cảng Haflơ 
Viếng con cha đặt trên mồ 
Một chùm thạch thảo đến giờ nở hoa.



Bản dịch của Vương Ngọc Long


Rạng ngày mai khi cánh đồng trắng xoá 
Cha sẽ đi... vẫn biết con chờ cha 
Băng rừng sâu vượt núi thẳm non xa 
Cha không thể đợi chờ lâu mòn mỏi 

Đôi mắt mãi trầm tư cha bước vội 
Không nhìn quanh chẳng nghe tiếng động nào 
Khom lưng cong tay vắt chéo nghẹn ngào 
Đêm sầu đau cũng như ngày nuối tiếc 

Hoàng hôn phủ chiều vàng cha chẳng thiết 
Chẳng nhìn xa phía cảng ngập màn sương 
Cha đến đặt trên mồ con gái thương 
Hoa thạch thảo ô rô màu thắm biếc...


Con gái yêu thương Léopoldine, Didine, Didi, mười chín mùa xuân, là một nốt nhạc buồn trong cuộc đời lắm vinh quang mà đầy sóng gió của người cha Victor Hugo, đại văn hào nước Pháp.



THÂN TRỌNG SƠN
(10/2017)













mercredi 11 octobre 2017

BẢN DI CHÚC




Truyện ngắn
Guy de Maupassant 



Tôi quen anh chàng cao cao tên là René de Bourneval đó. Anh có thái độ đối xử dễ thương, tuy hơi âu sầu, hình như ngán ngẩm mọi chuyện, khá hoài nghi, một kiểu hoài nghi chính xác và cay độc, đặc biệt khéo léo vạch trần mọi thói đạo đức giả của người đời chỉ bằng một từ thôi. Anh thường nói:" Chẳng có người lương thiện đâu, hoặc ít ra họ chỉ lương thiện tương đối so với bọn bất lương."

Anh có hai người anh mà anh chẳng mấy khi gặp, những người mang họ de Courcils. Tôi nghĩ anh là anh em khác cha vì thấy mang họ khác. Nhiều lần tôi nghe nói trong gia đình này có chuyện ly kỳ lắm, nhưng không nói rõ chi tiết.

Tôi rất thích anh chàng này và chúng tôi đã sớm kết thân. Một tối kia, trong khi chỉ hai người cùng ăn tối chung, tôi buột miệng hỏi: " Anh là con của cuộc hôn nhân đầu hay thứ hai?" Tôi thấy mặt anh hơi tái rồi đỏ bừng, anh lặng im vài giây, lộ rõ vẻ bối rối. Rồi, nở nụ cười buồn bã và hiền lành quen thuộc, anh nói: " Bạn thân mến, nếu anh không chán, tôi sẽ kể cho anh những chi tiết lạ lùng về gốc gác của tôi. Tôi biết anh là người thông minh, nên tôi không ngại chuyện kể sẽ ảnh hưởng đến tình bạn của anh, mà nếu có ảnh hưởng thì tôi cũng không thiết tha chuyện coi anh là bạn nữa". 

Mẹ tôi, bà de Courlis, là một phụ nữ nhỏ bé, rụt rè, đáng thương, do có của cải mà được cưới làm vợ. Cuộc đời bà là cả một nỗi thống khổ. Với tâm hồn nhân hậu, sợ sệt, tế nhị, bà bị ngược đãi không ngừng bởi người đáng lẽ là cha tôi, là một trong những nông dân mà người ta gọi là quý tộc nhà quê. Lấy vợ được một tháng, ông sống với một người tớ gái. Ngoài ra, ông còn lấy vợ và con của các tá điền làm nhân tình, trong khi vợ vẫn sinh cho ông hai đứa con, nếu tính cả tôi nữa thì là ba. Mẹ tôi chẳng hó hé gì, trong căn nhà lúc nào cũng ồn ào này bà sống như những con chuột nhắt lén lút dưới bàn ghế. Mờ nhạt, ẩn khuất, run rẩy, bà nhìn mọi người bằng đôi mắt sáng đầy âu lo, luôn linh hoạt, đôi mắt hốt hoảng do nỗi sợ không rời. Tuy nhiên, bà đẹp, rất đẹp, mái tóc vàng, màu vàng xám, một sắc vàng  nhợt nhạt, chừng như tóc bà vì sợ hãi liên miên mà phai màu đi. 

Trong số những người bạn hay lui tới lâu đài của ông de Courcils, có một cựu sĩ quan kỵ binh, goá vợ, người được nể sợ, dịu dàng và mạnh mẽ, có thể đưa ra những quyết định cương quyết nhất, đó là ông de Bourneval, mà tôi đang mang họ đây. Ông ấy cao lớn, mảnh khảnh, râu mép đen rậm. Tôi giống ông lắm. Ông đọc nhiều và  tư tưởng của ông không giống chút nào những người cùng tầng lớp với ông. Bà cố của ông từng là bạn của J.J.Rousseau (1), và có thể nói là ông đã thừa hưởng chút gì từ mối quan hệ này của tiền nhân. Ông thuộc lòng " Khế ước xã hội " (2) , " Héloïse mới" (3) và tất cả các sách thuyết lý chuẩn bị từ sớm sự đảo lộn sau này của các tập quán xưa cũ, các thành kiến, các luật lệ lỗi thời, nền luân lý ngu xuẩn.

Có vẻ như ông yêu mẹ tôi, và được yêu lại. Mối quan hệ này hoàn toàn bí mật đến độ không ai nghi ngờ gì. Người phụ nữ đáng thương, rầu rĩ, bị bỏ rơi, hẳn phải tuyệt vọng gắn bó với ông, mong nhờ sự giao thiệp này mà có được lối nghĩ, tư tưởng tình cảm tự do, yêu đương táo bạo, nhưng, do bản tính rụt rè, chẳng bao giờ bà dám lên tiếng, tất cả những điều kia bị dồn nén, cô đọng, ép chặt lại trong con tim không cởi mở bao giờ của bà.

Hai người anh của tôi, cũng như cha, đối đãi thô bạo với bà, chẳng lúc nào dịu ngọt, và ở trong nhà chẳng xem bà ra gì cả, phần nào chỉ xem là con ở thôi.

Tôi là con trai độc nhất yêu bà thực sự và được bà yêu.

Bà qua đời. Lúc đó tôi mười tám tuổi. Để anh hiểu chuyện tiếp theo, tôi phải nói thêm rằng chồng bà đã  biết được sự tư vấn pháp lý quyết định việc phân chia tài sản có lợi cho mẹ tôi, nhờ vào sự vận dụng khôn khéo pháp luật và sự tận tuỵ thông minh của công chứng viên, bà được giữ quyền lập di chúc để lại tài sản theo ý mình.

Như vậy, chúng tôi được thông báo là bản di chúc hiện có tại văn phòng công chứng, và được mời tới nghe công bố.

Tôi còn nhớ như chuyện mới xảy ra hôm qua. Quang cảnh hôm đó thật long trọng, kịch tính, khôi hài, bất ngờ, dẫn dắt bởi sự phản kháng muộn màng của người đã khuất, bởi tiếng thét đòi tự do, bởi nguyện vọng từ đáy mồ của người phụ nữ thống khổ bị phong tục đè nén suốt cả cuộc đời, và giờ đây, từ chiếc quan tài đóng kín, cất lên tiếng gọi đầy tuyệt vọng kêu đòi độc lập.

Người lâu nay vẫn tự cho là cha tôi, to béo, đỏ lừ, gợi hình ảnh anh hàng thịt, và các ông anh tôi, hai chàng khoẻ mạnh hai mươi và hai mươi hai tuổi, ngồi yên trên ghế chờ đợi. Ông de Bourneval, được mời tới dự, bước vào ngồi sau lưng tôi. Người bó sát trong chiếc áo choàng, ông trông xanh xao, thỉnh thoảng nhay nhay bộ râu mép nay đã hơi bạc. Hẳn là ông đã biết trước chuyện gì sẽ xảy ra.

Viên công chứng khoá kín cửa, mở chiếc phong bì gắn xi đỏ mà chính ông cũng không rõ nội dung, và bắt đầu đọc.

Đột nhiên bạn tôi ngừng lại, đứng lên đến ngăn kéo tủ lấy ra một mảnh giấy cũ, mở ra, hôn tờ giấy thật lâu, rồi mới nói tiếp. Đây là bản di chúc của người mẹ yêu quý của tôi.

" Tôi, ký tên dưới đây, Anne- Catherine- Geneviève- Mathilde de Croixluce, vợ hợp pháp của Jean- Léoplod-Joseph Gontran de Courcils, thể chất khoẻ mạnh, tinh thần tỉnh táo, bày tỏ ước nguyện cuối cùng của tôi như sau:

Trước tiên tôi cầu xin Chúa, sau đó là René con trai tôi, tha thứ cho hành động tôi sắp sửa phạm phải sau đây. Tôi nghĩ là con tôi đủ bao dung để hiểu và tha thứ cho tôi. Tôi đã đau khổ suốt đời. Chồng tôi đã cưới tôi vì tính toán, sau đó không ngừng khinh miệt, lạnh nhạt, ức hiếp, lừa dối tôi.
Tôi tha thứ cho ông ta, nhưng tôi không mắc nợ gì ông ta cả.
Những đứa con trai lớn của tôi không yêu thương, chiều chuộng tôi chút nào, chỉ bất đắc dĩ xem tôi là mẹ. 
Suốt đời tôi, tôi đã đối xử với chúng như bổn phận phải làm, tôi chết đi cũng chẳng nợ nần gì chúng.  Những mối quan hệ huyết thống không thể có được nếu không có tình thương bền vững, thiêng liêng, biểu lộ hàng ngày. Đứa con bất hiếu còn tệ hơn người dưng, mà là tên tội phạm, bởi nó không được phép tỏ ra dửng dưng với mẹ đẻ của mình. 
Tôi lúc nào cũng run sợ trước nam giới, trước những luật lệ bất công, những thói quen bất nhân, những thành kiến bất lương của họ. Trước Thượng đế, tôi không còn sợ nữa. Chết đi, tôi vứt bỏ thói đạo đức giả đáng hỗ thẹn khỏi mình, tôi dám nói lên điều mình nghĩ, bộc bạch và chịu trách nhiệm bí mật của con tim. 

Bởi lẽ đó, tôi chuyển cho ông Pierre-Germer-Simon de Bourneval, người tình yêu quý của tôi, toàn bộ phần tài sản mà luật pháp cho phép tôi sử dụng, để sau đó sẽ về phần con trai René thân yêu của chúng tôi.

( Ngoài ra ước nguyện này còn được ghi nhận cụ thể hơn trong một văn bản công chứng ).

Và, trước Đấng phán xử tối cao đang lắng nghe tôi đây, tôi xin tuyên bố là lẽ ra tôi đã nguyền rủa đất trời và lẽ sống nếu tôi không nhận được tình thương sâu sắc, tận tuỵ, ngọt ngào, bền vững của người yêu của tôi, nếu trong vòng tay ông ấy tôi không hiểu được rằng đấng Sáng tạo đã tạo ra con người là để yêu thương nhau, che chở nhau, an ủi nhau, và để cùng khóc trong những giờ phút cay đắng.

Hai con trai lớn của tôi đã có cha là ông de Courcils. Chỉ René là con ông de Bourneval. Tôi cầu xin đấng Quyền uy của con người và số phận của họ hãy nâng cha và con vượt lên trên những định kiến xã hội và hãy khiến hai cha con yêu thương nhau cho đến cuối đời và yêu cả tôi trong quan tài nữa.

Đấy là ý nghĩ cuối cùng và ước nguyện cuối cùng của tôi.
MATHILDE DE CROIXLUCE".

Ông de Courcils đứng dậy la lớn: " Đây là di chúc của một người điên!". Ngay lúc đó, ông de Bourneval nhích lên một bước và tuyên bố, giọng rõ ràng, quả quyết: 
" Tôi, Simon de Bourneval, tuyên bố rằng bản viết đó chứa đựng hoàn toàn sự thật. Tôi sẵn sàng bảo vệ nó trước bất cứ ai, và sẵn sàng chứng minh điều đó bằng số thư từ tôi đang giữ đây."

Ông de Courcils liền bước về phía ông. Tôi nghĩ là họ sẽ đánh nhau. Họ đứng kia, cả hai đều cao lớn, người mập, người gầy, đều giận run cả người. Chồng của mẹ tôi lắp bắp nói: " Đồ khốn nạn!". Người kia đáp trả, cũng giọng cương quyết và khô khan: " Chúng ta sẽ gặp nhau chỗ khác, thưa ông. Lẽ ra tôi đã tát vào mặt ông và thách đấu với ông từ lâu rồi nếu tôi không nghĩ đến, hơn mọi thứ, sự bình yên trong tâm hồn người phụ nữ tội nghiệp mà ông đã gây ra quá nhiều đau khổ".

Rồi, quay sang tôi, ông nói: " Con là con của cha. Con muốn đi theo cha không? Cha không có quyền đưa con đi, nhưng cha sẽ nhận trách nhiệm đó nếu con đồng ý đi theo cha.".
Tôi bắt tay ông mà không đáp. Và chúng tôi cùng ra về. Người tôi cứ lâng lâng.

Hai ngày sau, ông de Bourneval bắn hạ ông de Courcils trong cuộc thách đấu . Mấy người anh của tôi đã nín thinh vì ngại tai tiếng xấu xa. Tôi nhường cho họ và họ đã nhận một nửa gia tài mẹ tôi để lại.
Tôi lấy lại họ của người cha thực sự của tôi, từ khước cái họ không đúng mà luật 
pháp gán cho tôi. 
Ông de  Bourneval mất đã năm năm rồi. Tôi vẫn chưa nguôi ngoai nỗi buồn.

Bạn tôi đứng dậy, tiến vài bước tới ngồi trước mặt tôi: " Tôi cho rằng bản di chúc của mẹ tôi là một trong những thứ đẹp đẽ nhất, trung thực nhất, cao cả nhất mà một người phụ nữ có thể thực hiện. Ý anh chẳng phải vậy sao? "
Tôi chìa ra cả hai tay cho anh:  " Vâng, chắc chắn là tôi cũng nghĩ thế, bạn ạ!"



_________________________

J.J. Rousseau (1712-1778),nhà tư tưởng, nhà giáo dục học, nhà văn.
Khế ước xã hội, Contrat social,  tiểu luận triết học chính trị của Rousseau, 1762.
Julie, ou la nouvelle Héloïse, tiểu thuyết, 1762.




THÂN TRỌNG SƠN
dịch từ nguyên bản tiếng Pháp
( Le testament - 7 novembre 1882 )

http://www.bmlisieux.com/litterature/maupassant/testamen.htm



   

ALEXANDRE



ALEXANDRE

Truyện ngắn
Guy de Maupassant


Đúng là ngày hôm đó, vào lúc 4 giờ như mọi ngày, Alexandre đẩy đến cửa căn nhà nhỏ của gia đình Maramballe chiếc xe lăn ba bánh, từ đấy, theo toa bác sĩ, ông sẽ đưa bà chủ già yếu và bại liệt đi dạo cho đến 6 giờ. 

Khi ông đưa chiếc xe nhẹ hều này vào bậc cấp, đúng vào chỗ ông có thể dìu bà già to béo bước lên dễ dàng, ông đi vào trong nhà, và ngay lúc đó, bên trong nghe có tiếng nói giận dữ, giọng khàn đục của cựu chiến binh, đang gào thét chửi rủa, chính là giọng của ông chủ, cựu đại uý pháo binh hưu trí, Joseph Maramballe. 

Sau đó là tiếng cửa đóng dập mạnh, tiếng ghế bị xô đẩy, tiếng chân bước vội vã, rồi không còn gì. Một lát sau, Alexandre xuất hiện nơi ngưỡng cửa ra đường, cố hết sức dìu bà Maramballe đã mệt lữ vì xuống cầu thang. Khi bà đã yên vị, chẳng phải là không khó khăn, trong chiếc xe lăn, Alexandre đi lui sau, nắm lấy thanh quay dùng để đẩy xe, cho xe đi về hướng bờ sông.

Ngày nào họ cũng đi qua thành phố nhỏ này giữa những lời chào hỏi tôn kính có lẽ gởi đến người giúp việc cũng như bà chủ, bởi nếu bà chủ được mọi người yêu quý, nể trọng, thì người lính già râu bạc, râu lão này vẫn được xem như là gương mẫu trong số gia nhân.

Mặt trời tháng bảy dữ dội đổ trên đường, nhấn chìm những ngôi nhà thấp dưới ánh sáng ảm đạm do quá chói chan và gay gắt. Mấy con chó nằm ngủ trên những vỉa hè dưới bóng râm các bức tường, và Alexandre thở dốc rảo bước để nhanh tới đại lộ dẫn ra sông.

Bà Maramballe đã thiu thiu ngủ dưới chiếc dù trắng có đầu mũi nhọn đôi lúc hờ hững chạm vào gương mặt thản nhiên của người đàn ông.

Khi họ đi tới ngõ Tilleuls,  trong bóng cây bà già tỉnh hẳn, bà cất giọng ân cần:
" Đi thong thả thôi, ông bạn tội nghiệp, nắng thế này ông sẽ đuối đấy."

Bà lão hiền lành, với thói ích kỷ ngây thơ, đâu có nghĩ là, nếu bà muốn đi chậm hơn, là chỉ vì bà vừa mới tới nơi khuất dưới tán lá cây xanh.

Gần con đường bao phủ bởi những cây đoạn già cắt tỉa thành vòm, dòng sông Nanterre chảy quanh co giữa hai hàng liễu. 

Tiếng nước xoáy ồng ộc, tiếng nước đổ trên đá, tiếng nước ngoặt dòng đột ngột, hoà thành khúc ca êm dịu của nước và không khí mát lành ướt át trong suốt cuộc dạo chơi này.

Được hít thở và tận hưởng sự ướt át dễ chịu của nơi này một lúc lâu, bà Maramballe thì thầm:
" Bây giờ khá hơn rồi. Nhưng hôm nay ông ấy thức dậy không được khoẻ."
Alexandre đáp:
" Ồ, vâng, thưa bà."

Đã ba mươi lăm năm ông phục vụ gia đình này, ban đầu là lính hầu cận sĩ quan, sau đó là người hầu đơn thuần không muốn rời xa chủ, và sáu năm trở lại đây, mỗi chiều ông đẩy xe đưa bà chủ quanh các con đường hẹp của thành phố.

Từ việc chăm sóc tận tuỵ lâu ngày này, sau đó, từ việc giáp mặt tay đôi hàng tuần như thế này, giữa bà già và người giúp việc đã nảy sinh tình cảm thân mật, trìu mến ở bà, kính trọng ở ông.

Hai người nói về việc trong nhà như cách nói của những người bình đẳng. Ngoài ra, chủ đề chuyện vãn và bận tâm chính của họ là tính xấu của ông đại uý, nặng nề dần vì sự nghiệp lâu dài bắt đầu khá hiển hách, rồi trôi đi không thăng tiến, và kết thúc chẳng vẻ vang.

Bà Maramballe nói tiếp:
" Sáng thức dậy, ông ấy có tâm trạng không thoải mái. Điều này thường xảy ra từ khi ông thôi công tác."

Alexandre thở dài nói tiếp ý bà chủ:
" Ôi! Bà muốn nói là chuyện ấy xảy ra hàng ngày và xảy ra cả trước khi ông rời quân ngũ." 
" Đúng vậy đó. Nhưng ông ấy cũng là người kém may mắn. Ông khởi nghiệp với một chiến công nên được thưởng huy chương khi mới hai mươi, thế mà từ hai mươi đến năm mươi tuổi, ông không thăng cao hơn cấp đại uý, trong khi từ đầu ông cứ nghĩ lúc về hưu ít ra ông cũng phải đại tá."

Bà vẫn có thể nói rằng dẫu sao cũng chỉ là lỗi do ông thôi. Nếu ông đừng tỏ ra lúc nào cũng mềm mỏng như cái roi ngựa thì cấp trên của ông đã quý mến và bảo bọc ông hơn. Cứ cứng cỏi có được gì đâu, cũng phải chiều ý người khác để gây thiện cảm chứ. Còn chuyện ông đối xử với chúng ta như thế này, cũng là lỗi của chúng ta thôi vì chúng ta thích ở bên ông, nhưng đối với mọi người, thì khác đấy.

Bà Maramballe suy nghĩ. Ôi! Bao nhiêu năm nay rồi, mỗi ngày bà cứ nghĩ như thế đến thói thô bạo của ông chồng mà xưa kia bà đã cưới, lâu lắm rồi, bởi hồi đó ông là sĩ quan đẹp trai, còn trẻ đã có huy chương, và đầy triển vọng, như mọi người nói. Ở đời cũng lắm khi lầm lẫn!  

Bà nói nhỏ nhẹ:
" Dừng lại một chút đi, Alexandre đáng thương của tôi, và đến cái ghế của ông mà nghỉ. "

Đấy là một ghế băng nhỏ bằng gỗ, mục mất một nửa rồi , đặt ở chỗ rẽ lối đi dành cho những người dạo chơi ngày chủ nhật. Mỗi lần đi đến góc này, Alexandre thường ghé đến chiếc ghế đó ngồi thở vài phút.

Ông ngồi đấy, và với một cử chỉ quen thuộc, đầy tự hào, hai tay vuốt chòm râu bạc xoè ra như cánh quạt, nắm lấy rồi khép ngón tay lại mà vuốt nhẹ từ trên xuống dưới  và ép vào trước rốn một lát như thể muốn gắn dính nó ở đó và thêm một lần cảm nhận được rằng cái thứ còn có thể phát triển nữa này giờ đã dài lắm.

Bà Maramballe nói tiếp:
" Tôi thì tôi đã lấy ông ấy, thật ra chuyện tôi phải chịu đựng những bất công của ông ấy cũng phải lẽ và tự nhiên thôi, nhưng điều tôi không thể nào hiểu được là chính ông cũng phải chịu đựng như thế, là sao vậy, ông Alexandre trung hậu của tôi?"
Ông khẽ nhún vai và nói bâng quơ:
" Ôi, tôi mà... thưa bà."

Bà nói thêm:
" Thật vậy. Tôi thường nghĩ đến điều đó. Ông đã là lính hầu cận của ông ấy khi tôi kết hôn và ông chẳng làm gì khác ngoài việc chịu đựng ông ấy. Tại sao ông cứ ở với chúng tôi, lương thì thấp, đối đãi lại tệ, trong khi ông có thể làm như mọi người, lập nghiệp, lấy vợ, có con, tạo một mái ấm?"
Ông lặp lại:
" Ồ, thưa bà, với tôi thì khác chứ." Rồi ông im bặt, nhưng lại kéo chòm râu như thể muốn gõ cho tiếng chuông trong lòng ông ngân lên, như thể cố giật chòm râu ra,  đảo tròn đôi mắt hốt hoảng của một người đang cơn bối rối.

Bà Maramballe vẫn theo đuổi ý nghĩ của mình:
" Ông đâu phải là nông dân. Ông có học thức mà."
Ông kiêu hãnh ngắt lời:
" Tôi có học làm nhân viên đo đạc địa hình, thưa bà."
" Vậy cớ sao ông cứ ở với chúng tôi, hỏng cả cuộc đời mình? "
Ông ấp úng:
" Chuyện là thế thôi! Chuyện là thế thôi! Do tại bản tính tôi thôi."
" Sao ạ? Do bản tính ông? "
" Vâng, tôi đã gắn bó là gắn bó mãi, không còn gì khác." 
Bà bật cười.
" Ôi chao, ông đừng cố thuyết phục tôi rằng những cách đối xử tử tế và dịu dàng của Maramballe đã khiến ông gắn bó suốt đời với ông ấy."
Ông cựa quậy trên ghế, vẻ luống cuống thấy rõ và lầm bầm qua hàng râu mép:
" Không phải ông ấy, mà là bà!"

Bà chủ già  với gương mặt hiền lành viền bên trên, giữa vầng trán và mái tóc,  bởi một vành tóc xoăn màu tuyết được uốn cẩn thận hàng ngày và sáng bóng như lông  thiên nga, nhích người trong xe lăn và nhìn người giúp việc với đôi mắt ngạc nhiên.
" Ôi, Alexandre đáng thương của tôi, thế là thế nào? "

Ông đưa mắt nhìn lên trời, rồi nhìn sang bên, nhìn ra phía xa, đầu quay lại, như  kiểu người nhút nhát vẫn thường làm khi bị buộc phải thổ lộ những bí mật đáng xấu hổ. Cuối cùng, ông bày tỏ, với sự can đảm của người lính được lệnh ra mặt trận:

" Chuyện như vậy đó. Lần đầu tiên tôi mang thư của trung uý đến cho cô nương  và cô cho tôi hai mươi xu và còn mỉm cười với tôi, chuyện coi như đã định đoạt xong."
Bà không hiểu, khẩn khoản:
" Nào, ông hãy giải thích đi."

Thế là ông buột miệng, với nỗi lo sợ của kẻ khốn khổ phải thú nhận tội lỗi và hoàn toàn rối trí:
" Tôi đã có cảm tình với bà, thưa bà. Thế đấy! " 

Bà không nói lại gì, thôi không nhìn ông nữa, cúi đầu xuống và suy nghĩ. Bà vốn có từ tâm, thẳng thắn, dịu dàng, đầy lý trí và nhạy cảm.
Trong giây lát, bà nghĩ tới sự tận tuỵ vô hạn của con người khốn khổ này, người đã từ bỏ mọi thứ để được sống cạnh bà mà chẳng bao giờ hé môi. Bà chợt thấy muốn khóc.

Rồi, lấy vẻ mặt nghiêm trang, nhưng không chút giận dữ, bà nói:
" Ta về thôi."
Ông đứng dậy, đến sau chiếc xe lăn và bắt đầu đẩy.
Khi về gần làng, họ nhìn thấy ngay giữa đường đại uý Maramballe  tiến về phía họ.
Ngay khi bắt kịp họ, ông nói với vợ, vẻ muốn tỏ ra nổi cáu thấy rõ
" Chúng ta ăn tối món gì đấy?"
" Gà giò nấu đậu."
Ông nổi khùng:
" Gà giò, lại gà giò, mấy cũng gà giò, mẹ kiếp! Tôi chán ngấy gà giò của bà rồi! Bộ đầu óc bà không có ý tưởng gì ngoài việc ngày nào cũng bắt tôi ăn có một thứ?"
Bà nhẫn nhục trả lời:
" Nhưng mà, mình biết là bác sĩ cho toa vậy mà. Đó cũng là thứ tốt nhất cho dạ dày của mình. Nếu mình không đau dạ dày, tôi sẽ cho mình ăn nhiều món mà tôi không dám dọn cho mình."
Thế là, ông nổi giận đứng sững ngay trước mặt Alexandre:

" Tôi đau dạ dày cũng bởi cái tên súc vật này. Ba mươi lăm năm nay hắn đầu độc tôi với cái kiểu bếp núc tệ hại của hắn. "

Bất chợt bà Maramballe quay đầu lại hẳn để nhìn người giúp việc. Hai đôi mắt của họ gặp nhau và người này lẫn người kia đều nói: "Cám ơn" chỉ bằng tia nhìn như thế thôi.


THÂN TRỌNG SƠN
dịch từ nguyên bản tiếng Pháp
( Alexandre )

http://maupassant.free.fr/cadre.php?page=oeuvre






mercredi 4 octobre 2017

TÌNH YÊU




Truyện ngắn
Guy de Maupassant


Tôi vừa mới đọc trong mục tin vặt trên báo một bi kịch tình yêu say đắm. Chàng đã giết nàng rồi tự sát, nghĩa là đã yêu nàng. Chàng với Nàng thì có gì quan trọng? Chỉ có tình yêu của họ mới đáng cho tôi quan tâm, mà chẳng phải là vì tình yêu đó làm cho tôi mủi lòng hay ngạc nhiên, làm tôi xúc động hay suy nghĩ, lý do chỉ vì nó nhắc lại cho tôi một kỷ niệm thời trai trẻ, một kỷ niệm lạ kỳ về một chuyến đi săn, dịp này tình yêu đã hiển hiện với tôi như những thập tự hiển hiện giữa trời với những tín đồ Cơ đốc giáo đầu tiên.

Tôi sinh ra với tất cả bản năng và cảm giác của người sơ khai, được tiết chế bởi lý luận và cảm xúc của người văn minh. Tôi thích săn bắn đến độ đam mê; và hình ảnh con thú đầy máu me, máu dây trên lông, máu dính tay tôi, khiến tim tôi ngây ngất.

Năm đó, vào độ cuối thu, khí lạnh chợt về đột ngột, Karl de Rauville, một trong những người anh họ của tôi, cho gọi tôi tới để cùng anh săn vịt trời trong đầm lầy, lúc rạng sáng. Anh họ tôi trạc tứ tuần, vui tính, tóc hung, rất khoẻ mạnh, râu rậm, người quý phái ở nông thôn, hơi thô thiển mà dễ thương, bản tính vui vẻ, sẵn có tinh thần tự do phóng khoáng khiến việc tầm thường hoá thành dễ chịu, anh sống trong một kiểu lâu đài nông trại ở vùng thung lũng có con sông chảy qua. Những cánh rừng bao quanh đồi, bên trái và bên phải, kiểu rừng của lãnh chúa xưa, nơi còn lại nhiều cây tuyệt đẹp và cũng là nơi còn thấy được những loài chim quý hiếm nhất của khắp vùng này trên đất Pháp. Đôi khi ở đây người ta còn giết được cả đại bàng, và những con chim thiên di, những con hầu như chẳng bao giờ ghé đến những vùng quá đông người của chúng ta, đậu lại gần như  chẳng thay đổi trên những cành cây già cỗi như thể chúng đã biết hay nhận ra lại góc rừng nhỏ này, vốn có ở đó từ xưa  sẵn cho chúng trú ẩn trong khoảng thời gian nghỉ chân ngắn ngủi về đêm này.

Trong thung lũng là những đồng cỏ lớn tưới bởi những mương nước và có hàng rào ngăn cách. Phía xa hơn là con sông, dồn nước về tận đây rồi toả ra thành một đầm lầy rộng. Cái đầm này, khu vực săn bắn tuyệt nhất tôi từng biết, đã được anh họ tôi bỏ công sức giữ gìn như một bãi săn. Băng qua một đám lau sậy rộng lớn phủ tràn bãi này, khiến cho nó sinh động, rì rào, xao xác, người ta đã vạch ra những lối đi hẹp cho những con thuyền đáy phẳng điều khiển bằng sào, trôi đi lặng lẽ trên mặt nước lặng lờ, lướt qua đám song mây, xua bầy cá vụt lội qua lớp cỏ và đuổi lũ gà rừng cắm đầu đen nhọn xuống rồi đột ngột lủi mất.

Tôi yêu sông nước bằng một đam mê không chừng mực: yêu biển, tuy quá rộng và luôn luân chuyển, không thể sở hữu được, yêu sông đẹp đến thế, nhưng lại qua đi, trôi đi, chảy đi, và yêu nhất là đầm lầy nơi rộn ràng cuộc sống đầy bí ẩn của bao loài vật thuỷ cư. Đầm lầy là một thế giới trọn vẹn trên mặt đất, một thế giới khác, có đời sống riêng, có cư dân riêng, lại có những khách lãng du, có tiếng nói, âm thanh và bí mật của nó nữa. Đôi lúc, chẳng có gì gây bối rối, lo âu, hoảng sợ, hơn là bãi đầm lầy. Tại sao nỗi sợ này lại bay lượn trên những đồng cỏ ngập nước? Phải chăng là do những tiếng rì rào mơ hồ của lau sậy, những đốm lửa ma trơi lạ lùng, sự im lặng tột cùng bao trùm đêm thanh vắng, hay là lớp sương mù kỳ dị kéo phủ trên đám song mây như những chiếc áo của người chết, hoặc giả là tiếng bập bềnh thoáng qua, nhỏ thôi, êm thôi, mà lại gây kinh hoàng hơn tiếng đại bác của loài người hay tiếng sấm rền của đất trời, tất cả khiến đầm lầy trông giống như những xứ sở trong mơ, những xứ sở đáng sợ ẩn chứa một bí mật không nhận biết được và đầy hiểm nguy.

Không. Có một thứ khác toả ra, một bí mật khác sâu kín hơn, nặng nề hơn, bập bềnh trong lớp sương mù dày đặc, có lẽ là sự bí mật của chính sự khai sáng! Bởi lẽ chẳng phải là chính trong bùn lầy nước đọng, trong ẩm thấp nặng nề của vùng đất đẫm ướt dưới ánh nắng mà mầm sống đầu tiên đã cựa quậy, đã rung rinh, đã chào đời hay sao?

Tôi đến nhà anh họ vào buổi tối. Trời giá lạnh đến đá cũng nứt nẻ.
Khi ăn tối, trong căn phòng rộng mà tủ buýp phê, tường và trần nhà đều đầy cả những con chim nhồi, căng ra với đôi cánh rộng, hoặc đậu trên những cành móc vào những cái đinh, diều hâu, diệc, cú vọ, cú muỗi, chim ưng, chim diều mốc, kền kền, chim cắt, anh họ tôi giống như một con vật lạ kỳ của xứ lạnh, khoác chiếc áo cánh bằng da hải cẩu, kể cho tôi nghe anh đã chuẩn bị thế nào cho cuộc săn đêm nay. 

Chúng tôi phải ra đi lúc 3 giờ rưỡi sáng để vào khoảng 4 rưỡi có thể đến điểm đã chọn để mai phục. Ở chỗ đó, người ta đã xây một cái lều với những tảng băng để chúng tôi núp tránh phần nào cơn gió khủng khiếp khi trời sắp sáng, thứ gió mang theo cơn lạnh xẻ da như lưỡi cưa, cắt da như dao, chích như kim tẩm thuốc độc, vặn xoắn như kìm, và đốt cháy như lửa.

Anh họ tôi xát hai bàn tay vào nhau: " Anh chưa bao giờ thấy giá lạnh như thế này, anh nói, mới sáu giờ chiều mà đã mười hai độ âm." Ăn xong là tôi lăn vào giường và thiếp ngủ dưới ánh sáng ngọn lửa lớn cháy trong lò sưởi.

Đúng ba giờ tôi được đánh thức. Tôi khoác lên người mảnh da cừu và thấy anh Karl phủ bộ lông gấu. Sau khi uống mỗi người hai tách cà phê nóng hổi kèm theo hai ly sâm banh hảo hạng, chúng tôi lên đường cùng người phụ việc và hai con chó là Plongeon và Pierot.

Mới ra ngoài được vài bước, tôi đã thấy lạnh thấu xương. Đó là một trong những đêm mà mặt đất dường như chết cóng vì lạnh. Không khí đóng băng khó chịu đến mức trở nên cứng, sờ thấy được; không một làn gió nào lay động, khí trời đông cứng, bất động, nó cắn, đâm ngang, làm héo, giết chết cây to, cây nhỏ, côn trùng,  cả những con chim nhỏ rơi từ trên cành xuống mặt đất cứng, rồi chim cũng bị giá lạnh ghì siết mà thành cứng ngắt luôn.

Trăng hạ tuần chếch hẳn về một phía, thật nhợt nhạt, có vẻ như khuyết hẳn đi giữa không trung, yếu ớt đến nỗi không lặn đi được, cứ ở mãi trên cao đó, bị bầu trời khắc nghiệt tóm lấy và làm cho tê cóng. Trăng toả một thứ ánh sáng khô khốc và buồn bã xuống trần gian, ánh sáng lờ đờ, nhợt nhạt của mặt trăng vào cuối chu kỳ trăng mỗi tháng.

Karl và tôi đi cạnh nhau, lưng khom xuống, tay thọc vào túi, súng kẹp dưới nách.  Những đôi giày có bọc len để khỏi trượt chân khi đi trên dòng sông băng không gây ra tiếng động. Tôi nhìn làn khói trắng do mấy con chó thở phì ra. Chẳng mấy chốc, chúng tôi đã đến mép đầm lầy và đi vào một trong những con đường đầy lau sậy khô dẫn tới cánh rừng thấp.

Khuỷu tay chúng tôi, chạm vào những dải lá dài, để lại phía sau một âm thanh nhỏ. Tôi cảm thấy một mối cảm xúc mãnh liệt và lạ kỳ, như tôi chưa bao giờ thấy, do đầm lầy gây ra nơi tôi. Nó đã chết, cái đầm lầy ấy, chết vì giá lạnh, bởi vì chúng tôi đã bước lên trên, giữa những đám song mây khô queo của nó.

 Đột nhiên, nơi khúc ngoặt đường đi, tôi nhìn thấy cái lều băng được dựng sẵn cho chúng tôi vào ẩn núp. Tôi bước vào, và vì chúng tôi còn gần một tiếng đồng hồ chờ cho những con chim lang thang thức giấc, tôi cuộn mình trong tấm chăn để cố sưởi ấm.

Lúc này, nằm ngả lưng, tôi bắt đầu ngắm nhìn mặt trăng biến dạng, với bốn cái sừng xuyên qua những bức vách trong suốt của căn nhà băng này.

Nhưng cái lạnh của đầm lầy đóng băng, cái lạnh của những bức tường, cơn lạnh từ trên trời ập xuống nhanh chóng  thấm vào tôi một cách khủng khiếp khiến tôi bật cơn ho.
Anh họ tôi tỏ ra lo lắng: " Nếu hôm nay không giết được gì nhiều cũng chẳng sao cả, anh nói, anh không muốn chú bị cảm lạnh, chúng ta sẽ đốt lửa." Rồi anh bảo người phụ việc đi chặt lau sậy.

Lau sậy đem về chất thành đống để ngay giữa căn lều đã khơi thông trên chóp để khói thoát ra; khi ngọn lửa hồng bốc lên dọc theo các vách ngăn trong suốt, chúng tan chảy từ từ, nhẹ nhàng, như thể những tảng đá băng đổ mồ hôi vậy. Karl vẫn đứng bên ngoài, gọi tôi: " Chú đến xem này! " Tôi bước ra và kinh ngạc tột cùng. Căn lều của chúng tôi, dạng hình nón, trông như viên kim cương quái dị nằm trong đống lửa bất ngờ bị đẩy ra giữa mặt nước đóng băng của đầm lầy. Và bên trong, có thể nhìn thấy hai hình thù mờ ảo, là hai con chó của chúng tôi đang nằm sưởi ấm.

Nhưng một tiếng kêu kỳ lạ, tiếng kêu thảng thốt, tiếng kêu lạc lõng vang trên đầu chúng tôi. Ánh sáng lờ mờ từ ngọn lửa sưởi nóng đã đánh thức lũ chim hoang dã.

Không có gì làm tôi xúc động bằng tiếng la ó đầu tiên của sự sống này, tuy không nhìn thấy nhưng trong bóng tối, nó lan truyền thật nhanh, thật xa, trước khi những tia sáng đầu tiên của ngày mùa đông ló dạng nơi chân trời. Vào giờ khắc lạnh giá này của buổi rạng đông, tôi tưởng chừng tiếng kêu trốn chạy này của con vật có lông vũ là tiếng thở dài của con người.

Karl nói: " Dập lửa đi. Rạng đông rồi." 
Quả thật trời bắt đầu chuyển sang màu tai tái, và từng bầy vịt trời kéo trên bầu trời những vệt dài di chuyển nhanh, rồi sớm bị xoá nhoà.
Một vệt sáng loé lên trong màn đêm, Karl vừa nổ súng, hai con chó lao đi như tên bắn.

Thế là, từng phút một, hoặc anh ấy, hoặc là tôi, chúng tôi nhanh nhẹn nhắm bắn ngay khi trên đám lau sậy hiện ra bóng dáng đàn vật bay. Và Pierrot cùng Plongeon , hụt hơi và vui vẻ, mang về cho chúng tôi những con thú dính máu mà đôi lúc  mắt vẫn còn nhìn chúng tôi.

Ngày đã lên, một ngày trong xanh, mặt trời mọc phía cuối thung lũng, chúng tôi tính sẽ bỏ đi, đúng lúc hai con chim, cổ vươn dài, cánh giăng thẳng, bất ngờ xẹt qua trên đầu chúng tôi. Tôi nã súng. Một trong hai con rớt xuống gần ngay chân tôi. Đó là con le le bụng bạc. Thế rồi, trong khoảng không gian ngay trên đầu tôi, nghe có tiếng, tiếng chim kêu lên. Tiếng kêu than ngắn, lặp đi lặp lại, não lòng, và con vật, con vật bé nhỏ thoát được cứ quay tròn trên bầu trời xanh trên đầu chúng tôi mà nhìn xuống chim bạn đã chết tôi đang nắm trong tay.

Karl, quỳ gối, tì súng vào vai, mắt háo hức, rình chờ con chim bay đến gần.
" Chú đã hạ con mái, anh nói, con trống sẽ không rời nó đâu."

Thực vậy, nó không bay đi, mà cứ quay vòng và khóc than chung quanh chúng tôi. Chưa bao giờ tiếng kêu than bi thương lại dày vò tâm can tôi như tiếng kêu đau buồn, như lời oán trách thảm thiết của con vật tội nghiệp lạc lõng trong không trung.

Thỉnh thoảng nó bay xa đi dưới họng súng theo dõi nó đe doạ, có vẻ như nó vẫn sẵn sàng tiếp tục hành trình, chỉ một mình trên trời xanh. Nhưng rồi không cương quyết, nó lại bay trở về tìm con mái của mình.
" Chú để nó xuống đất đi, Karl bảo tôi, lát sau nó sẽ tới gần."

Nó tới gần thật, không bận tâm đến nguy hiểm, hốt hoảng với tình yêu loài vật, tình yêu dành cho con vật mà tôi đã giết.

Karl bấm cò, như người ta cắt sợi chỉ treo giữ con chim vậy thôi. Tôi nhìn thấy một vật đen rơi xuống, tôi nghe tiếng rơi trong đám lau sậy. Và Pierrot mang nó lại cho tôi.

Tôi để cả hai đã lạnh ngắt trong cùng chiếc túi săn... và tôi lên đường trở về Paris
ngay hôm đó.
..............

7 décembre 1886.



THÂN TRỌNG SƠN
dịch từ nguyên bản tiếng Pháp
 Amour 

 http://athena.unige.ch/athena/maupassant/maupassant_amour.html



  
    
       
   

     




lundi 2 octobre 2017

HAI NGƯỜI BẠN






Truyện ngắn
Guy de Maupassant



Paris bị phong toả, thiếu đói, ngột ngạt. Chim sẻ trên mái nhà khan hiếm hẳn và lũ chuột trong cống rãnh ngày càng ít đi. Mọi người ăn bất cứ thứ gì kiếm được.

Sáng tháng giêng đẹp trời, ông Morissot, vốn là thợ sửa đồng hồ, nay thất nghiệp, khi đang rầu rĩ tản bộ dọc theo đại lộ, tay đút túi quần, bụng rỗng, bỗng chạm mặt một người quen: ông Sauvage, bạn từ những chuyến đi câu.

Trước khi xảy ra chiến tranh, cứ mỗi sáng chủ nhật, từ sớm tinh mơ, Morissot đã ra đi, tay xách cần tre, lưng đeo hộp thiếc. Ông đáp chuyến tàu lửa Argenteuil, xuống ga Colombes, rồi đi bộ đến cù lao Marante. Vừa mới đặt chân đến vùng đất  mơ ước này là ông bắt đầu thả câu, mãi cho đến tối mới về.

Mỗi chủ nhật, ông gặp Sauvage ở chỗ đó. Ông Sauvage người nhỏ nhắn, mập mạp và vui tính, bán hàng xén ở đường Notre-Dame-de-Lorette, cũng là dân mê câu cá. Hai người thường ở bên nhau cả nửa ngày, tay cầm cần câu, chân đu đưa trên mặt nước, và cứ thế tình bạn ngày càng thân thiết.
Nhiều ngày, họ chẳng nói gì với nhau. Cũng có lúc, họ hàn huyên tâm sự, nhưng dù không ngỏ lời nào họ cũng hiểu nhau lắm rồi, vì có sở thích và cảm nhận y như nhau.

Mùa xuân đến, khoảng mười giờ sáng, vầng thái dương buổi sớm thả nhẹ màn sương mỏng bồng bềnh trên dòng sông êm đềm và phủ chút nắng ấm mùa mới trên lưng hai người mải miết buông câu, Morissot có khi nói với người ngồi kế bên: " Ôi! Thật thú vị quá chừng!" và ông Sauvage đáp ngay: " Chẳng có gì tuyệt hơn!" Và chừng đó đủ cho hai người hiểu và quý nhau.

Sang thu, vào lúc ngày tàn, ánh tà huy nhuộm đỏ ối bầu trời chiếu xuống mặt nước những đám mây hồng, cả dòng sông đỏ tía lên, phía chân trời đỏ rực, khiến cảnh nơi hai người bạn ngồi trông đỏ cháy cả lên, dát vàng vào cây cối sắp thay lá sau cơn gió lạnh đầu mùa, Sauvage nhìn Morissot mỉm cười nói: " Cảnh vật tuyệt đẹp nhỉ!" Và Morissot say sưa đáp, mắt vẫn không rời chiếc phao: " Trông đẹp hơn cảnh đại lộ nhiều hả! "

Ngay khi nhận ra nhau, họ nồng nhiệt bắt tay, cả hai đều cảm động vì gặp nhau trong hoàn cảnh đổi khác thế này. Ông Sauvage thở dài, nói nhỏ: " Lại còn chuyện  gay go nữa đấy!" Morissot rầu rĩ than: " Mà thời tiết thì quá tuyệt! Hôm nay là ngày đẹp trời đầu tiên trong năm đấy!"

Thật vậy, trời trong xanh, ngập nắng.
Hai người trầm ngâm, buồn bã đi cạnh nhau, Morissot nói tiếp: " Bây giờ mà được đi câu nhỉ? Nhớ lại hồi đó thật thú vị! "
Ông Sauvage hỏi: " Biết bao giờ ta mới đi câu trở lại được?"
Hai người bước vào một quán rượu nhỏ và uống một ly " nàng tiên xanh " (1), rồi cùng nhau dạo bước trên đường.
Bỗng Morissot dừng lại: " Làm một ly nữa không? " Ông Sauvage đồng ý: " Làm thì làm." Thế là cả hai lại vào một quán rượu khác.

Khi trở ra, cả hai đều chếnh choáng, khật khưỡng như những người bụng đói mà nốc rượu vào. Trời mát dịu. Cơn gió nhẹ mơn man khuôn mặt họ. Nhờ khí trời ấm áp nên bớt say, ông Sauvage dừng lại: " Hay là ta lại đi? "
Đi đâu?
Thì đi câu đó.
Nhưng ở đâu chứ?"
Vẫn chỗ cù lao chúng ta. Quân Pháp đóng gần Colombes. Tôi quen đại tá Dumoulin, họ sẽ dễ dàng cho mình qua thôi.
Morissot sướng run lên: " Được rồi. Tôi đồng ý." Rồi hai người chia tay nhau để đi lấy dụng cụ câu cá.

Một giờ sau, hai người đã cùng sải bước trên đường cái. Họ đi đến dinh thự của viên đại tá. Nghe lời thỉnh cầu của họ, ông mỉm cười và chấp thuận cái ý thích phóng khoáng đó. Thế là cả hai lại lên đường, giờ đã có giấy thông hành.

Chẳng bao lâu, họ đã đi vượt qua các tiền đồn, băng ngang qua vùng Colombes bỏ hoang, đặt chân lên bờ những cánh đồng nho bé nhỏ trải dài xuống phía sông Seine.  Lúc ấy khoảng mười một giờ.

Trước mặt họ, làng Argenteuil trông im lìm, chết chóc. Hai ngọn đồi Orgemont và Sannois cao trội hơn cả vùng. Cánh đồng rộng lớn kéo dài đến tận Nanterre giờ đây trơ trọi, hoang vắng hẳn, chỉ còn vài cây anh đào trụi lá và những vùng đất xám. 

Ông Sauvage đưa tay chỉ mấy đỉnh núi, thì thầm: " Bọn Phổ ở trên kia kìa!" Và hai người bạn bỗng thấy lo ngại đến tê cóng người trước quang cảnh hoang vu này.

Quân Phổ! Họ chưa bao giờ trông thấy chúng, nhưng đã cảm nhận bóng dáng chúng, từ mấy tháng nay, ở quanh Paris, chúng giày xéo đất nước, cướp bóc, giết chóc, gây cảnh đói kém, không thấy mặt nhưng thật hung bạo. Họ cảm thấy một nỗi kinh hoàng lạ lùng chen vào lòng căm ghét sẵn có đối với dân tộc xa lạ, xâm  lược kia.

Morissot ấp úng: " Này, lỡ gặp bọn chúng thì sao nhỉ?"
Với thói hay chế giễu của dân Paris, ông Sauvage đáp: " Ta sẽ biếu cho chúng một mẻ cá."  

Nhưng rồi cả vùng yên lặng quá khiến họ ngại không dám phiêu lưu vào phía đồng ruộng.

Cuối cùng, ông Sauvage đánh bạo nói: " Thôi, lên đường đi! Nhưng phải cẩn thận mới được! "
Và hai người đi xuống một ruộng nho, cúi gập người, lom khom, núp mình dưới những bụi cây, đảo mắt, căng tai.
Phải băng qua một dải đất trống nữa mới tới bờ sông. Họ đâm đầu chạy, và khi ra tới nơi, cả hai núp mình trong đám lau sậy khô.
Morissot áp tai xuống đất để nghe thử có ai đi gần đây không. Chẳng nghe thấy gì. Chỉ có mình họ ở nơi này.
Cả hai yên chí và bắt đầu thả câu. 
Trước mặt, cù lao Marante hoang vắng che khuất họ với bờ bên kia. Tiệm ăn nhỏ cửa đóng then cài, có vẻ đã bỏ hoang nhiều năm rồi.

Ông Sauvage câu được con cá đục đầu tiên. Morissot câu được con thứ hai, và cứ một chặp, họ lại giơ cao chiếc cần với con vật bé sáng ánh bạc vẫy vùng ở đầu sợi dây, thật là mẻ cá diệu kỳ.
Họ nhẹ nhàng bỏ mấy con cá vào trong cái giỏ lưới nhỏ đặt dưới chân, và tận hưởng một niềm vui thanh tao, niềm vui ta cảm thấy khi tìm lại được thú vui ưa chuộng lâu nay bị tước đoạt.
Mặt trời toả hơi nóng giữa đôi vai hai người, họ không nghe thấy gì, họ không suy nghĩ gì, họ quên hết mọi chuyện trên đời, mà chỉ biết tới việc câu cá của mình.

Bất thình lình, một tiếng động khô khốc như vang lên từ dưới sâu làm rung chuyển  cả mặt đất. Đại bác bắt đầu khai hoả trở lại.

Morissot quay đầu lại, và thấy xa xa, phía tả ngạn con sông, bóng dáng sừng sững của  ngọn Valérien, từ trên đỉnh bốc lên làn khói trắng.
Ngay sau đó một làn khói thứ hai bốc lên từ trên đỉnh chiến luỹ, và một lát sau một tiếng nổ mới lại gầm vang đất trời.
Sau đó, lại tiếp tục những tiếng nổ khác nữa, từng chặp một, ngọn núi phà ra hơi thở chết chóc, nhả lên tận bầu trời êm ả những làn hơi trắng đục, tạo ra một lớp mây phủ lên trên núi.

Ông Sauvage nhún vai: " Bọn chúng lại tiếp tục!" 
Morissot bần thần nhìn cái phao đang dập dềnh lên xuống, vốn là người bình tĩnh, bỗng nổi giận với những kẻ điên rồ bắn giết nhau, ông làu bàu: " Chỉ những kẻ ngu đần mới giết nhau như vậy!"
Ông Sauvage tiếp lời: " Còn tệ hơn loài cầm thú."

Và Morissot mới bắt được con cá mương, lên tiếng: " Vẫn chỉ là vậy thôi chừng nào còn nhà nước."
Ông Sauvage xen vào: " Nền cộng hoà sẽ không tuyên chiến..."
Morissot ngắt lời: " Các vua chúa thì tiến hành chiến tranh xâm lược, với nền cộng hoà thì nội chiến."

Thế rồi họ bình thản chuyển sang tranh luận những vấn đề lớn về chính trị, với lý lẽ lành mạnh của những con người hiền lành và yên phận, đồng ý với nhau ở điểm rằng rồi ra chẳng bao giờ được tự do. Và ngọn núi Valérien vẫn nổ rền không nghỉ, từng quả pháo đại bác bắn ra phá huỷ bao ngôi nhà người dân Pháp, nghiền nát bao cuộc sống, tàn sát bao con người, làm tan vỡ biết bao giấc mơ, biết bao niềm vui ấp ủ, biết bao hạnh phúc mong chờ, gây nên những nỗi đau buồn triền miên không dứt cho bao trái tim những người vợ, những người con, những người mẹ ở nhiều xứ sở khác nữa.

 " Cuộc sống là vậy thôi! " ông Sauvage nói.
Morissot bật cười, " Nói cho đúng cái chết là vậy thôi! "

Bỗng họ giật mình, sợ hãi, vì cảm thấy có tiếng bước đi phía sau. Khi quay lại, họ nhìn thấy sát ngay vai mình bốn người, bốn gã đàn ông cao to, rậm râu, có khí giới, ăn mặc như gia nhân những nhà quyền quý, đầu đội mũ cát két, lăm lăm chĩa súng về phía họ.

Hai chiếc cần câu tuột khỏi tay họ, rơi xuống sông.
Trong vài giây, họ bị bắt trói lại, ném vào chiếc thuyền đưa sang cù lao.
Và đằng sau ngôi nhà mà họ tưởng bỏ hoang, họ thoáng thấy khoảng hai chục  tên lính Đức.
Một gã cao lớn, râu ria xồm xoàm, ngồi dạng hai chân trên ghế, miệng ngậm chiếc tẩu dài bằng sứ, hỏi họ bằng thứ tiếng Pháp rất chuẩn: " Thế nào, quý ông, đi câu khá chứ?" 
Ngay lúc đó, một tên lính mang đến đặt dưới chân viên sĩ quan cái giỏ đựng cá mà hắn đã để ý mang về. Tên Phổ mỉm cười: " Ờ, ờ, cũng không tệ lắm đó. Nhưng có chuyện khác cần bàn. Nghe ta nói đây và đừng hoảng hốt. Với ta, các người là gián điệp được phái tới do thám ta. Ta bắt được và sẽ bắn bỏ các người. Các người giả bộ đi câu, cốt để che giấu kế hoạch. Các người đã rơi vào tay ta, thây kệ các người, chiến tranh là vậy đó. Các người đã đi qua khỏi tiền đồn, hẳn là có mật khẩu để đi về. Cho ta biết mật khẩu đó, ta sẽ tha cho."

Hai người bạn đứng cạnh nhau, mặt tái mét, đôi bàn tay bối rối run nhẹ, không nói gì.
Viên sĩ quan nói tiếp: " Không ai biết chuyện này, các người sẽ yên ổn trở về. Bí mật sẽ biến mất cùng với các người. Nếu các người từ chối thì sẽ chết, ngay tức  khắc. Chọn đi!"

Hai người đứng bất động, không hé môi.

Tên Phổ, vẫn bình tĩnh, chỉ tay về phía con sông nói tiếp: " Hãy nghĩ là chỉ năm phút nữa, các người sẽ nằm dưới dòng nước kia.  Chỉ trong vòng năm phút thôi! Các người có thân nhân chứ?"

Trên núi Valérien đại bác vẫn nổ rền. 

Hai người đi câu vẫn đứng lặng im. Tên Đức dùng ngôn ngữ của mình ra lệnh. Rồi gã dịch cái ghế ra xa một chút để khỏi ngồi gần hai tù binh quá, mười hai người xếp hàng cách đó hai chục bước, súng đặt dưới chân.

Viên sĩ quan tiếp lời:" Ta cho các người một phút, không thêm giây nào."
Gã chợt đứng dậy, tới gần hai người Pháp,  nắm lấy tay Morissot , kéo ông ra xa và thì thầm vào tai: " Nói nhanh lên, mật khẩu là gì? Bạn ngươi không biết đâu, ta sẽ làm bộ mủi lòng mà tha cho."  

Morissot không trả lời.
Tên Phổ lại đến kéo Sauvage ra và hỏi lại y như vậy.
Sauvage cũng không nói gì.
Họ đứng sát cạnh nhau.

Viên sĩ quan ra lệnh. Các tên lính giương súng.
Lúc đó, ánh mắt Morissot chợt nhìn về phía giỏ đựng cá đục đang để trên cỏ, cách ông vài bước.
Một tia nắng chiếu vào làm cho đống cá còn quẫy được ánh lên. Và ông thấy suy sụp. Tuy đã cố nén, mắt ông vẫn đẫm lệ.
Ông lắp bắp: " Vĩnh biệt, anh Sauvage."
Ông Sauvage đáp lại: " Vĩnh biệt, anh Morissot." 
Họ nắm chặt tay nhau, cả thân người từ chân lên đầu run rẩy bởi những nỗi sợ hãi khó tả.
Viên sĩ quan thét: " Bắn! "
Mười hai phát súng đồng loạt nổ.

Ông Sauvage ngã xuống vì một phát trúng ngay mũi. Ông Morissot cao hơn, lảo đảo, xoay người rồi ngã chồng lên bạn, mặt hướng lên trời, máu phọt lên từ chiếc áo bị bắn thủng nơi ngực. 
Tên Đức lại ra lệnh tiếp.
Những thuộc hạ tản ra rồi trở lại mang theo dây thừng và những tảng đá, chúng lấy buộc vào chân hai người bị sát hại rồi khiêng ra bờ sông. 
Ngọn Valérien vẫn không ngừng rền tiếng nổ, giờ này lại phủ đầy lớp khói dày đặc.

Hai tên lính khiêng Morissot đằng đầu và đằng chân, hai tên khác cũng khiêng ông Sauvage cách như vậy. Hai xác người, bị đẩy mạnh đong đưa qua lại một lát rồi bị ném tít ra xa, đánh thành một đường vòng, và chìm thẳng đứng xuống sông, vì bị đá kéo hai chân xuống trước.
Nước bắn lên, sủi bọt, xoáy tròn rồi tĩnh lặng, trong khi những đợt sóng lăn tăn dập vào đến tận bờ. Một chút máu loang ra trên mặt sông.

Viên sĩ quan, vẫn thản nhiên, nói nhỏ: " Bây giờ là nhiệm vụ của lũ cá."
Sau đó gã quay về nhà.
Gã chợt thấy giỏ cá đục nằm trong cỏ. Gã nhặt lên, ngắm nghía, mỉm cười gọi to:
 " Wilhelm!" 
Một tên lính khoác tạp dề trắng chạy đến. Và tên Phổ ném mớ cá của hai người vừa bị bắn, ra lệnh: " Chiên ngay mấy con này cho ta khi chúng còn sống . Ngon lắm đó.".

Sau đó, gã lại ngậm chiếc tẩu vào miệng.


___________
absinthe, rượu làm từ các loại thảo mộc, trong đó thành phần chính là cây khổ ngải ( ngải chi ). Vì có màu xanh ngọc của cây lá nên rượu này còn có tên gọi là nàng tiên xanh ( green fairy ). 



THÂN TRỌNG SƠN
dịch từ nguyên bản tiếng Pháp
( Deux amis , 5 février 1883 )

vendredi 29 septembre 2017

MƯA RÀO



Truyện ngắn
Hwang Sun- won
Nhà văn Hàn quốc
( 1915-2000 )



Hwang Sun-Won sinh năm 1915 ở vùng Daodong, Nam Bình Nhưỡng. Từ thời còn học trường trung học Sungsil, ông đã có thơ đăng trên tạp chí Donggwang ( Đông quang ) -  bài "Giấc mơ của tôi"  (1931).
Năm 1934, ông sang Nhật du học ( trường Trung học đệ nhị Waseda ), bắt đầu sinh hoạt văn học nghệ thuật ngay từ thời gian này. Cùng các bạn, ông thành lập hội nghiên cứu nghệ thuật kịch; sau đó xuất bản tập thơ đầu tiên Bangca ( Phóng ca, Wayward Songs ).
Năm 1936, Hwang Sun-won theo học Đại học Waseda, chuyên ngành tiếng Anh. Lúc này, ông chuyển sang viết truyện ngắn và tiểu thuyết. 

Sau chiến tranh ( 1950-1953 ), ông sáng tác nhiều hơn, đồng thời với việc giảng dạy  Văn học Hàn quốc tại Đại học Kyunghee, Seoul ( 1957-1980 ).
Sự nghiệp văn chương của Hwang Sun- won kéo dài tới 60 năm, tính từ bài thơ đăng báo đầu tiên vào năm 1931 đến tác phẩm cuối cùng được xuất bản vào năm 1992, trải qua nhiều biến cố lịch sử, thời đất nước bị Nhật chiếm đóng, rồi lại chiến tranh và chia cắt hai miền Nam Bắc. 

Hwang Sun- won là một trong những khuôn mặt lớn của nền văn học Hàn quốc thế kỷ XX. Ông quan niệm "một nhà văn chỉ lên tiếng thông qua tác phẩm của mình" và chú tâm rèn giũa nghệ thuật làm thơ, viết truyện, không viết những bài tạp văn thiếu tính văn học. Ông muốn cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp viết lách nên ngoài tư cách giáo sư đại học Kyunghee, thành viên của Viện Nghệ thuật Quốc gia, ông không đảm nhận chức vụ nào khác, thậm chí từ chối học vị tiến sĩ do trường đại học trên trao tặng. Hwang Sun- won qua đời năm 2000, để lại một số tập thơ , 7 cuốn tiểu thuyết và trên 100 truyện ngắn. 

Truyện " Mưa rào " ra mắt công chúng năm 1953, khi chiến tranh ở Hàn quốc chưa kết thúc. Truyện kể về mối tình đầu rất đẹp, mà buồn quá, của cậu bé nhà quê với cô gái về từ thành phố. Có chút gì ngây thơ chơn chất, có những niềm vui giản dị bình thường, tương phản giữa nếp sống dân dã hiền hoà và sự cạnh tranh sinh tồn nơi đô thị... Một nét thoáng qua về mong manh phận người đưa đến cái kết ngậm ngùi mà không bi luỵ, khiến truyện vẫn giữ mãi dư âm trong sáng nơi người đọc bấy lâu.




Ngay khi cậu bé nhìn thấy đứa con gái bên bờ suối, cậu nhận ra ngay nó là cháu nhà họ Yun. Nó nhúng hai tay vọc nước. Có lẽ ở Seoul nó chẳng bao giờ thấy con suối như thế.

Mấy hôm nay ngày nào nó cũng nghịch nước như vậy, trên đường đi học về. Cho tới ngày hôm kia, nó vẫn chỉ chơi bên mép nước, nhưng hôm nay, nó ra đến giữa những viên đá tảng.

Cậu bé ngồi trên bờ. Cậu định chờ đến lúc con nhỏ bỏ đi.
Như mọi lần, có người xuất hiện là con nhỏ đi về.

Hôm sau, cậu bé đi ra suối muộn hơn một tí. Lần này, cậu thấy con nhỏ đang ngồi  rửa mặt giữa đám đá cuội. Tương phản với chiếc áo hồng tay xắn cao lên, cổ con nhỏ trắng toát. 

Con nhỏ rửa mặt xong một lát rồi chăm chú nhìn xuống mặt nước. Hẳn là nó muốn nhìn bóng phản chiếu của nó. Rồi nó phóng tay chộp xuống nước thiệt lẹ. Có lẽ một chú cá con nào bơi qua.

Không rõ con nhỏ có biết là cậu đang ngồi bên bờ suối khi nó chộp lẹ dưới nước không. Lần nào cũng không được gì nhưng con nhỏ vẫn cứ chộp như thế cho vui vậy thôi. Có vẻ như nó chỉ bỏ ra về khi có ai đó đi ngang qua chỗ này, như hôm trước vậy.

Bỗng nó nhặt dưới nước lên một vật gì đó. Một hòn sỏi cuội trắng. Sau đó, nó đứng dậy và nhảy bước nhỏ qua những viên đá tảng.

Nhảy qua hết, nó quay lại: " Này, cậu kia."

Viên sỏi trắng bay vèo qua.

Cậu bé đứng thẳng dậy.

Lắc lư mái tóc bện, con nhỏ bỏ chạy ra xa. Nó đi theo đường mòn giữa đám lau sậy. Lúc này chẳng có gì khác những đọt lau màu nhạt loé sáng trong ánh chiều mùa thu. 
Con nhỏ sắp xuất hiện ở phía xa đám lau sậy rồi. Cậu nghĩ là nó đã đi lâu lắm.  Nhưng con nhỏ vẫn không xuất hiện. Cậu nhón gót lên. Và nghĩ là nó đã đi thật lâu lắm rồi.

Xa xa, phía bên kia mảnh đất đầy lau sậy, có một chùm lau động đậy. Con nhỏ đang ôm bó lau. Rồi nó chậm rãi bước. Ánh nắng chiều sáng rực chiếu trên mái tóc của con nhỏ trông giống như cây lau. Dường như cây lau đang di chuyển qua cánh đồng chứ không phải con nhỏ.

Cậu bé đứng mãi ở đó cho đến lúc không nhìn thấy đọt lau kia. Cậu bỗng nhìn xuống viên sỏi cuội mà con nhỏ ném cho cậu. Viên sỏi khô rồi. Cậu nhặt lấy bỏ vào túi.

Ngày hôm sau, cậu ra suối hơi muộn một tí. Không có dấu vết gì của con nhỏ. Cũng được thôi.

Tuy nhiên, cũng hơi lạ. Nhiều ngày qua vẫn không có dấu vết con nhỏ đi qua, trong lòng cậu cái cảm giác trống vắng cứ lớn dần. Cậu cứ mân mê viên sỏi trong túi quần.

Một hôm, cậu bé đến ngồi giữa những viên đá tảng, ngay chỗ con nhỏ thường ngồi nghịch nước. Cậu nhúng tay xuống nước. Rồi lấy tay lau mặt. Cậu nhìn xuống nước. Gương mặt sạm đen nhìn ngược lại cậu. Cậu thấy ghét.

Cậu bé lấy cả hai tay chộp vào mặt mình dưới nước. Làm nhiều lần như thế. Và cậu bất chợt nhảy lên ngỡ ngàng.  Chuyện gì vậy, con nhỏ đang tới gần, đi về phía này.

" Nãy giờ nó núp, dòm xem mình làm gì"  Cậu bỏ chạy. Cậu bước hụt chân trên viên đá. Một chân lọt xuống nước. Cậu chạy nhanh hơn.

Ước chi có chỗ nào cho cậu núp. Phía này chẳng có cây lau sậy nào. Chỉ có đồng lúa mạch. Cậu có cảm tưởng mùi hương lúa mạch đang xông vào lỗ mũi như chưa bao giờ thấy. Đầu cậu lảo đảo. Một chất lỏng có vị mặn rỉ ra giữa đôi môi cậu. Mũi cậu bị chảy máu.
Lấy tay bịt mũi, cậu tiếp tục chạy. Cậu cảm thấy như có giọng ai liên tục gọi với theo, " Thằng ngốc, thằng ngốc."

Ngày thứ bảy đến.
Khi cậu đi tới rìa con suối, con nhỏ mà nhiều ngày rồi cậu không hề gặp đang ngồi bên suối nghịch nước. Cậu băng qua mấy viên đá tảng, vờ như không thấy nó.  Trước đây mấy ngày, cậu đã xử sự như một thằng ngốc trước mặt con nhỏ, hôm nay cậu bước qua những viên đá tảng rất cẩn thận, trong khi trước đó cậu băng qua chúng kiểu như chúng nằm ở trên xa lộ.

" Này!"
Cậu làm bộ không nghe. Cậu bước lên bờ và dừng lại.
" Này, đây là loại sò gì vậy?"

Cậu vô tình quay lại và đụng phải đôi mắt đen nhánh của con nhỏ. Cậu vội quay nhìn vào lòng bàn tay con nhỏ.
" Sò điệp đấy."
" Tên đẹp quá!" 

Hai đứa đi tới chỗ lối mòn tách ra hai bên. Từ chỗ này con nhỏ sẽ đi xuống đồi một dặm gì đó, còn cậu sẽ đi lên hai hay ba dặm.
Con nhỏ dừng lại và nói: " Cậu có bao giờ qua bên kia đồi chưa?"
Nó đưa tay chỉ về phía cuối cánh đồng.
" Chưa hề."
" Vậy sao ta không đi? Cứ quanh quẩn nơi đây, tớ chán lắm rồi." 
" Xa lắm đó."
" Cậu nói xa là sao? Ở Seoul khi đi dã ngoại, bọn tớ đi bộ đoạn đường dài lắm." Đôi mắt con nhỏ dường như muốn nói," Thằng ngốc! Thằng ngốc!"

Hai đứa đi theo lối mòn giữa hai đồng lúa. Chúng đi gần nơi người ta đang gặt vụ mùa thu.
Có con bù nhìn đứng ở đó. Cậu bé lay sợi dây rơm. Mấy con chim sẻ vụt bay ra. Cậu bé chợt nhớ ra đáng lẽ cậu phải về sớm để xua đàn sẻ khỏi đám ruộng lúa chính.
" Trông ngộ thiệt!"

Con nhỏ cầm lấy sợi dây chằng con bù nhìn và giựt mạnh. Con bù nhìn lúc lắc, trông như đang nhảy múa. Bên má trái con nhỏ gợn chút núm đồng tiền.

Xa hơn tí nữa lại có thêm một con bù nhìn nữa. Con nhỏ chạy về phía đó. Cậu bé chạy theo sau. Có vẻ như cậu đã quên là hôm nay phải về sớm và giúp phụ việc ở nhà.

Cậu cứ chạy theo sát con nhỏ. Mấy con châu chấu bay quật vào mặt chúng làm chúng đau nhức. Bầu trời mùa thu trong xanh bắt đầu xoay trước mắt cậu bé. Cậu thấy chóng mặt. Chỉ vì con diều hâu trên cao kia, con diều hâu trên cao kia, con diều hâu trên cao kia đang quay vòng.
Ngoái nhìn lui, cậu thấy con nhỏ đang lay con bù nhìn cậu vừa chạy qua. Bù nhìn lắc lư nhiều hơn con trước. Có con đê ở mép cuối ruộng lúa. Con nhỏ nhảy qua trước.
Từ chỗ này đến tận chân đồi chỉ toàn là ruộng thôi. 
Chúng đi ngang qua đỉnh đồi, nơi những thân cây kê chất đống.
" Cái gì đây vậy?"
" Cái chòi."
" Nhìn này, dưa vàng nhỏ xíu. Có ngon không ha?"
" Cũng được, nhưng dưa hấu ngon hơn."
" Tớ mong có một trái mà ăn..."

Cậu bé đi vào đám ruộng, chỗ có gieo củ cải trắng chen lẫn những cây dưa hấu còn sót, rồi nhổ hai củ cải mang về. Chúng chưa phát triển hết cỡ. Cậu bẻ gãy và ném lớp lá qua một bên rồi đưa cho con nhỏ một củ. Sau đó, ra vẻ như muốn nói " phải ăn như vậy này! " cậu cắn một miếng ở đầu to, lấy móng tay lột vỏ rồi cắn miếng ruột ở trong.
Con nhỏ làm theo y hệt, nhưng cắn chưa được ba miếng, nó la lên: "Ôi, cay quá và hôi quá," rồi nó ném đi.

" Mùi khó chịu quá! Tớ cũng nuốt không vô"
Rồi cậu ném củ cải của mình xa hơn nữa.

Đã đến gần các ngọn đồi.
Những lá thu muôn màu hiện rõ trước mắt chúng.
" Ôi!"
Con nhỏ tiếp tục chạy về phía đồi. Bây giờ cậu bé không chạy theo sau nữa. Thay vào đó, cậu hái nhiều hoa hơn số con nhỏ gom được.
" Đây là hoa cúc (1) , đây là hồ chi (2) , còn đây là hoa chuông (3)..."
" Tớ không bao giờ nghĩ hoa chuông đẹp như thế này. Tớ thích màu tía... Còn hoa này, trông giống cái dù, là hoa gì thế? "
" Hoa nữ lang (4) đó."
Con nhỏ làm bộ cầm cái hoa kiểu như cầm dù. Cùng lúc đó, mặt nó đỏ ửng lộ má núng đồng tiền.

Cậu bé lại hái thêm một nắm hoa cho con nhỏ. Cậu chọn những hoa còn tươi đưa cho nó. 
Nhưng con nhỏ bảo: " Đừng vứt bỏ hoa nào hết."

Hai đứa leo lên đỉnh đồi.
Bên sườn thung lũng đằng trước có mấy túp nhà tranh chụm lại thật cân đối.
Chẳng đứa nào nói gì, chỉ lặng lẽ ngồi cạnh nhau, chân vắt qua tảng đá. Mọi vật chung quanh yên tĩnh khác thường. Nắng thu chói chan toả hương thơm cỏ khô,  chỉ vậy thôi.

" Hoa gì kia vậy? "
Bên kia sườn dốc, những cánh hoa cuối cùng của mùa thu bùng nở trên dây sắn leo rối beng.
" Có vẻ là hoa tử đằng (5). Trường tớ ở Seoul có cây tử đằng bự lắm. Nhìn những dây hoa này tớ nhớ đến tụi bạn thường hay chơi chung dưới cây kia."

Con nhỏ đứng dậy đi tới sườn dốc. Nó nắm lấy một dây leo có nhiều hoa đang nở và giật mạnh, nhưng không bứt ra được. Nó cố thêm tí nữa và bị trượt chân. Nó chộp được một dây leo.

Cậu bé hoảng hồn chạy vội đến. Con nhỏ chìa bàn tay ra. Cậu nắm lấy tay con nhỏ kéo lên rồi xin lỗi vì đã không tự mình hái hoa cho nó. Có mấy giọt máu rỉ ra nơi đầu gối phải con nhỏ. Cậu tự động áp miệng vào vết trầy và mút. Rồi, không hiểu nghĩ gì, cậu đứng dậy bỏ đi.

Lát sau trở lại, cậu hổn hển nói: " Đắp cái này vào sẽ đỡ hơn."
Cậu đắp chút nhựa thông vào vết trầy, rồi chạy đến chỗ dây nho, lấy răng cắn đứt mấy dây có hoa, lấy đem về cho con nhỏ. Rồi nó nói: " Đằng kia có con bê. Tới xem đi."

Con bê màu vàng nhạt, mũi chưa đeo chuông.
Cậu bé nắm chặt dây cương, vờ cào lên lưng con vật rồi nhảy vọt lên. Con bê nhảy chồm lên và quay tròn.
Gương mặt tái xanh của con nhỏ, chiếc áo hồng, cái váy màu chàm, cộng thêm mấy cái hoa nó cầm trong tay, tất cả xoay vòng mù mịt. Trông giống như cả một chùm hoa lớn. Cậu bé thấy chóng mặt, nhưng cậu không muốn dừng lại. Cậu thấy hãnh diện. Đây là chuyện con nhỏ không thể bắt chước. Chỉ mình cậu làm được thôi.

" Này, mấy đứa đang làm trò gì vậy?"
Một bác nông dân đi tới từ đám cỏ cao.
Cậu bé nhảy xuống lưng con bê. Cậu chờ bị la. " Cháu cỡi trên lưng nó như thế lỡ nó bị đau thì tính sao?"
Thế nhưng bác nông dân râu dài chỉ liếc nhìn con nhỏ, cầm lấy dây cột con bê, rồi nói: " Cháu nên về nhà nhanh đi. Sắp có mưa rào đấy".

Thật vậy, mây đen kéo phủ đầy trên đầu chúng. Hai đứa chợt nghe tiếng động khắp bốn phía chung quanh. Có tiếng gió xào xạc. Sau tia chớp mọi vật chuyển màu tối sẫm. Khi hai đứa đi xuống đồi, tiếng mưa rơi đập vào lá cây sồi. Mưa to quá. Chúng thấy lạnh sau gáy. Rồi trong thoáng chốc một màn mưa chặn đường phía trước. Chúng thoáng thấy một túp lều giữa đồng. Chúng có thể chạy đến núp ở đó. Nhưng mấy cái cột thì xiêu vẹo còn mái lá thì rách tơi tả. Cậu bé giúp con nhỏ bước vào, tìm một chỗ mái lá ít rách nhất.

Môi con nhỏ tím tái, nó run cả hai vai.

Cậu bé cởi chiếc áo khoác bông vải của mình đắp lên vai nó. Con nhỏ ngước lên nhìn cậu, không nói gì, cứ để mặc cậu muốn làm gì thì làm. Sau đó, cậu lấy trong bó hoa con nhỏ ôm trong tay những hoa nào bị gẫy cuống và cánh hoa nhàu nát bỏ xuống trải dưới chân con nhỏ. Giờ thì mưa lại nhỏ giọt xuống chỗ nó đứng. Chúng không thể núp ở đây được nữa rồi.

Nhìn ra bên ngoài, cậu bé chợt nghĩ ra, rồi chạy về phía đám ruộng kê. Cậu tách rời những đụn rơm bằng cách dựng những thân cây kê đứng lên, rồi gom thêm một  đống nữa bỏ thêm vào chỗ trước. Cậu tiếp tục tách các đụn rơm nữa, rồi vẫy tay gọi con nhỏ đến.

Mưa không rơi xuyên qua đụn thân kê. Chỉ là một khoảng không gian rất chật và tối. Cậu bé ngồi bên cạnh đụn kê và để mưa thấm qua người. Hơi nước bốc lên từ hai vai cậu.

Con nhỏ thì thầm bảo nó bước vào ngồi bên trong. Tớ ổn thôi, cậu bé đáp. Con nhỏ lại nói nó đi vào ngồi bên trong.

Cậu không thể làm gì khác hơn là bước thụt lùi đi vào. Làm như thế, cậu vô tình đụng nát những bông hoa con nhỏ đang cầm. Nhưng con nhỏ nghĩ là chuyện đó chẳng sao cả. Thân thể ướt át của cậu bé bốc lên mùi khó chịu xông vào mũi con nhỏ, nhưng nó cũng không quay đầu đi. Ngược lại, nó cảm thấy mình bớt run nhờ hơi ấm từ cơ thể cậu bé.

Đột nhiên tiếng động trên lá cây kê ngừng hẳn. Bên ngoài, trời sáng ra.

Hai đứa từ đụn kê bước ra. Trước mặt chúng, không xa lắm, ánh mặt trời đã chiếu chói lọi. Đi đến con đê, chúng thấy nước ngập hết cả rồi. Dòng nước đỏ ngầu, đầy bùn tuôn chảy như suối dưới ánh nắng. Chúng không thể nào nhảy qua được.

Cậu bé đưa lưng cho con nhỏ. Nó ngoan ngoãn để cậu cõng đi. Nước lên đến chân quần xắn lên của cậu. 
Con nhỏ la lớn, và ôm chặt cổ cậu bé. 
Trước khi chúng đi tới con suối, bầu trời mùa thu đã sáng lên, không còn đám mây nào mà trong xanh, chừng như trước đó chẳng có chuyện gì cả.

Sau hôm đó, không còn dấu vết gì của con nhỏ. Ngày nào cậu bé cũng chạy ra suối xem, nhưng chẳng thấy con nhỏ đâu. Vào giờ chơi ở trường, cậu tìm quanh sân. Cậu còn kín đáo liếc nhìn vào phòng học lớp 5 nữ sinh. Cũng không thấy con nhỏ.
Cũng vào hôm đó, cậu lại ra bờ suối, tay xoa mãi viên sỏi trắng trong túi. Lạ chưa kìa!  Không phải con nhỏ đang ngồi nơi bờ suối đó sao?

Cậu bé cảm thấy tim mình đập nhanh.
" Tớ đau miết mấy bữa nay."
Quả thật gương mặt con nhỏ tái mét.
" Hẳn là do cậu bị ướt hôm nọ, khi gặp mưa rào?"
Con nhỏ lặng lẽ gật đầu.
" Giờ đã đỡ chưa?"
" Chưa..."
"  Vậy thì cậu phải nằm nghỉ."

" Chán quá nên tớ phải ra ngoài... Cậu biết không, hôm đó, thật vui...  có điều là sau hôm đó tớ bị vết bẩn mãi không hết."
Nó nhìn xuống phía trước cái áo hồng. Có một vết trông như vết bùn đỏ sẫm.

Con nhỏ im lặng để lộ má núm đồng tiền rồi hỏi, " Có thể là vết bẩn kiểu gì nhỉ? "

Cậu bé nhìn chằm chặp vào trước áo con nhỏ.

" Cậu biết không, tớ nghĩ ra rồi. Hôm nọ, khi băng qua con đê, cậu cõng tớ trên lưng, đúng không? Vết bẩn này từ lưng cậu đó thôi."
Cậu bé đỏ mặt. Đến chỗ ngã rẽ, con nhỏ nói tiếp: " Sáng nay bọn tớ hái trái táo ta ở nhà... chuẩn bị giỗ ông bà ngày mai..." Nó đưa cho cậu bé một nắm táo. Cậu ngập ngừng.
" Ăn thử một trái đi. Ông cố của tớ trồng cây này đó, ngọt lắm." Cậu bé đưa hai bàn tay khum lại: " Ôi, trái to thật!"
" Mà lần này, sau ngày giỗ, còn có chuyện khác nữa. Gia đình tớ sẽ dọn đi."

Trước khi gia đình con nhỏ dọn về đây, cậu bé đã nghe cha mẹ mình nói chuyện, cậu biết là công việc làm ăn con cháu nhà họ Yun ở Seoul thất bại, họ không thể trở về nhà được nữa. Có vẻ như ngôi nhà đó sắp sang tay chủ khác.
" Vì nhiều lý do, tớ ghét dọn nhà lắm. Nhưng đây là quyết định của bố mẹ, tớ có làm gì được đâu." Lần đầu tiên, đôi mắt đen của con nhỏ lộ vẻ buồn rầu.
Sau khi chia tay, trên đường về nhà, cậu bé cứ lặp đi lặp lại trong đầu không biết bao nhiêu lần, " con nhỏ sắp chuyển nhà ". Cậu không cảm thấy đặc biệt luyến tiếc hay buồn phiền. Tuy nhiên cậu không thấy vị ngọt của miếng táo nhai trong miệng nữa.

Chiều hôm đó, cậu lặng lẽ đi tới vườn cây óc chó của lão Deoksoi.
Cậu leo lên cái cây đã chọn trong ngày. Cậu lấy cái sào đập vào cành cây đã chọn trước. Âm thanh của quả óc chó rơi nghe to lạ thường. Tim cậu lạnh cóng. Nhưng,  một lát sau, cậu rán hết sức nắm lấy cái sào : này hạt to, nhiều vào, rơi xuống đi, nhiều vào, rơi đi. 

Trên đường về, cậu nương theo bóng tối từ mảnh trăng khuyết. Hai ngày nữa mới đến kỳ trăng tròn.  Đây là lần đầu tiên cậu biết ơn bóng tối.

Cậu vuốt vào cái túi căng phồng. Cậu chẳng để ý lời người ta hay nói rằng lấy tay trần bóc vỏ trái óc chó có thể bị phát ban. Điều cậu nghĩ tới là cậu phải nhanh chóng cho con nhỏ nếm thử những trái óc chó vườn nhà lão Deoksoi, nổi tiếng ngon nhất làng.

Đúng lúc này, cậu chợt giật mình nghĩ ra. Cậu đã quên nhắc con nhỏ khi nó đỡ bệnh, cậu mong sao nó đến bờ suối một lần cuối, trước khi nhà nó dọn đi. Ngốc thật! Ngốc thật!

Hôm sau, khi đi học về, cậu thấy cha ăn mặc bảnh bao, tay ôm một con gà.

Cậu hỏi ông đi đâu.

Không buồn trả lời, ông quan sát kỹ con gà trong tay : " Cỡ này được không nhỉ?"

Mẹ cậu đưa cho ông cái túi mắt lưới. " Nó đã cục tác và tìm chỗ đẻ mấy bữa nay. Trông không to lắm nhưng mập đó." Cậu quay sang hỏi mẹ là cha định đi đâu.

" Ờ, ông đến nhà lão Yun bên kia thung lũng gần trường học cũ đó mà. Ông mang nó làm quà biếu..." " Đáng lẽ ông phải lấy con thật to. Con gà trống đốm đó..." Nghe nói vậy cha cười to và nói: " Con này cũng khá mập rồi."

Cậu bé vô cớ tỏ ra bối rối, cậu ném sách vở xuống, đi về phía chuồng bò, phát vào lưng con bò một cái như thể muốn giết con ruồi.

Nước ngoài suối mỗi ngày mỗi dâng.

Cậu bé đi tới chỗ ngã rẽ rồi quay xuống đồi.  Dưới trời xanh trong vắt, ngôi làng bao quanh trường cũ trông rất gần. 

Cha mẹ cậu nói ngày mốt gia đình con nhỏ sẽ dọn đến Yangpyong. Họ trông coi một cửa hàng nhỏ xíu ở đó.

Bất giác, cậu bé mân mê những trái óc chó trong túi, còn tay kia với níu bẻ gãy một đọt cây sậy.

Chiều hôm đó, cậu vẫn trở lại ý nghĩ cũ, ngay khi đã vào giường nằm ngủ: Ngày mai, cứ cho rằng mình sẽ đến tiễn chân gia đình con nhỏ đi. Nếu đến, có lẽ mình sẽ gặp được nó.

Rồi nó bị cuốn vào giấc ngủ, nhưng vẫn suy nghĩ: " Sống ở đời này thiệt là ... "

Cha đi vào làng đã về rồi." Nhìn cảnh gia đình lão Yun xem. Ruộng vườn bán hết, căn nhà bao nhiêu thế hệ đã sống nay sang tay người khác rồi, còn con bé, lá  xanh rụng trước lá vàng nữa..." Mẹ cậu đang ngồi may dưới ánh đèn, đáp lại: " Nhà ấy chỉ còn con bé này thôi phải không? "
" Ừ. Có hai đứa trai nhưng đều mất sớm rồi... Sao lại có gia đình bất hạnh về đường con cái đến thế này nhỉ? "

Đúng như vậy. Con nhỏ bệnh đã mấy ngày nay rồi và họ cũng không thể lo liệu thuốc thang được. Vậy là gia đình lão Yun tuyệt tự... Nhưng bà biết không, con nhỏ đó, bà có nghĩ là kỳ cục không? Thì đó, trước khi chết, nghe nói là nó bảo nếu nó không khỏi, nó muốn là khi chôn nó thì mặc cho nó bộ áo quần nó vẫn mặc mỗi ngày, cứ như vậy thôi..."




____________________________
chrysanthemum
bush clover
bellflower
valerian. Nữ lang là loài thực vật có bông nhỏ, màu hồng lợt hay trắng trên những cuống cao và mạnh. Hoa có mùi thơm dịu dễ chịu.
wisteria. Hoa mọc thành chùm trong cành rủ xuống dài từ 10cm đếm 80cm, có màu tím, hồng hoặc trắng. Hoa tử đằng có mùi thơm.




THÂN TRỌNG SƠN
dịch theo bản tiếng Anh ( Brother Anthony of Taizé )

http://hompi.sogang.ac.kr/anthony/Shower.htm