samedi 10 novembre 2018

NGƯỜI THẦY






Truyện ngắn.
Elisabeth Silance Ballard.



Một truyện ngắn cảm động về tình thầy trò. Có hai chi tiết khiến người đọc có thể nghĩ chuyện xảy ra ở Việt Nam, không phải ở Mỹ, chuyện hôm nay, không phải cách đây hơn bốn mươi năm. Đó là việc giáo viên đối xử công bằng, đồng đều với tất cả học sinh là điều rất khó, đến nỗi nếu giáo viên hứa với học sinh của mình như thế, thì chính thầy hay cô  đó biết ngay là mình đang nói dối! Thứ hai là việc học sinh tặng quà đồng loạt cho giáo viên nhân một cơ hội nào đó, tưởng là đơn giản nhưng có khi lại khá tế nhị, gây bối rối cho học sinh nếu em nào đó không có điều kiện, chỉ có thể mang đến một món quà tầm thường, khiến cả lớp phải cười nhạo. Xử lý tình huống này tuỳ bản lĩnh và cái tâm của người thầy.
Kể từ khi được đăng tải trên tạp chí Home Life năm 1976, truyện trở nên nổi tiếng, được phổ biến rộng rãi, dịch ra nhiều thứ tiếng. Nhiều người tin đây là một câu chuyện có thật, và hơn thế nữa, còn quả quyết nhân vật chính hiện nay là bác sĩ đang làm việc tại Trung tâm Ung thư của một bệnh viện thuộc tiểu bang Iowa. 
Tác giả Elisabeth Silance Ballard ( một nhà hoạt động xã hội, tác giả nhiều truyện ngắn ) phải lên tiếng xác nhận truyện hoàn toàn hư cấu, không có cô giáo Thompson nào, cũng không có học sinh cá biệt Teddy nào cả, tuy bà có dựa vào vài chi tiết đời tư để sáng tác.
Người đọc khỏi cần bận tâm về chuyện hư thực đó vẫn thấy được vấn đề cốt lõi của công việc người thầy là lương tâm chức nghiệp và quan hệ thầy trò được tác giả nêu lên và giải quyết khá tinh tế. Không giải thích, không bình luận, rất ít lời, chỉ những sự kiện sắp xếp cạnh nhau, ngắt câu, ngắt đoạn bất ngờ, độc đáo, văn phong giản dị. Chừng đó đủ để tạo ra một câu chuyện thú vị, gợi nhiều suy nghĩ cho người đọc, nhất là những ai đang hoặc đã từng dạy học.



( Có thể đọc thêm tiểu sử tác giả ở đây:




Cách đây nhiều năm rồi, có một câu chuyện về một cô giáo dạy tiểu học. Tên cô là Cô Thompson. Hôm đó là ngày đầu tiên của năm học. Khi cô đứng trước lớp 5 do cô phụ trách, cô đã nói với bọn trẻ điều dối trá. Cũng như hầu hết giáo viên khác, cô đưa mắt  nhìn học trò và nói là cô sẽ yêu thương và đối xử công bằng với tất cả. Nhưng điều đó có lẽ sẽ khó thực hiện, bởi ngay ở hàng ghế đầu, cô thấy ngồi lù lù thằng bé Teddy Stoddard. 

Cô Thompson đã biết đến thằng Teddy từ năm ngoái và đã nhận xét rằng nó chẳng chơi được với bọn trẻ khác, áo quần thì lôi thôi lếch thếch và có vẻ như lúc nào cũng cần phải tắm gội. Tóm lại, nó thật khó ưa.
Chuyện dẫn tới mức cô giáo cứ gặp bài của thằng nhỏ là sẵn sàng đánh dấu X thật đậm - với cây bút đỏ to - và ghi chữ F thật lớn trên đầu tờ giấy. (1)
Trong trường cô Thompson dạy, như các giáo viên khác, cô phải xem lại kết quả học tập những năm trước của học sinh và cô đã để hồ sơ của Teddy đến cuối cùng mới xem.
Tuy nhiên, khi cô xem đến hồ sơ của thằng nhỏ, cô đã rất mực ngạc nhiên.

Giáo viên lớp một phê, “ Teddy là một học sinh sáng dạ và vui nhộn, làm việc gì cũng ngăn nắp, cư xử tốt... Em luôn mang đến niềm vui  cho những người xung quanh...”
Giáo viên lớp hai nhận xét, “ Teddy là một học sinh xuất sắc, bạn bè đều yêu mến, nhưng em đang gặp khó khăn vì mẹ em đang mắc bệnh hiểm nghèo, cuộc sống gia đình hẳn là vất vả lắm.”
Giáo viên lớp ba ghi, “Cái chết của mẹ đã gây chấn động mạnh lên Teddy. Em đã cố gắng hết sức nhưng người cha thiếu quan tâm, cuộc sống ở nhà sẽ ảnh hưởng đến em nếu tình hình không cải thiện.” 
Giáo viên lớp bốn phàn nàn, “ Teddy buông xuôi, và không thể hiện niềm hứng thú trong việc học hành. Em không có nhiều bạn bè và thường ngủ gật trong lớp.” 

Đến lúc đó, cô Thompson đã hiểu được vấn đề và thấy xấu hổ về mình. Cô càng thấy   ray rứt hơn khi học sinh tặng cô quà Giáng sinh, tất cả đều được gói giấy bóng loáng và cột dải ruy băng xinh xắn, chỉ trừ quà của Teddy.

Quà của thằng nhỏ được gói vụng về trong một tờ giấy nâu thô ráp, có lẽ lấy từ bọc giấy đựng đồ tạp nham nào đó. Cô Thompson thấy nhói đau khi mở gói quà của Teddy giữa những món quà khác. Một số đứa đã bật cười khi cô lấy ra một vòng đeo tay bằng đá thiếu mất vài hột và một lọ nước hoa chỉ còn một phần tư.
Nhưng cô đã làm cho những tiếng cười kia im bặt khi cô khen chiếc vòng đẹp, rồi đeo vào tay, và thoa một ít nước hoa lên cổ tay.
Và hôm đó Teddy Stoddard đã nấn ná ở lại trường một lát chỉ để nói, “ Cô ơi, hôm nay cô thơm như mẹ em trước đây vậy.” 

Bọn trẻ về hết, cô giáo khóc cả tiếng đồng hồ. Và cũng từ ngày đó, cô không chỉ dạy đọc, dạy viết, dạy làm toán, cô bắt đầu dạy dỗ bọn trẻ. Cô đặc biệt quan tâm đến Teddy.
Và do được cô theo sát, đầu óc thằng nhỏ như sinh động hẳn lên. Cô càng khích lệ thì nó càng đáp ứng nhanh. Đến cuối năm học, Teddy trở thành một trong những học sinh xuất sắc nhất lớp, và, tuy cô đã nói dối là sẽ yêu thương bọn trẻ như nhau, Teddy đã trở thành “ học trò cưng “ của cô giáo.
Một năm sau, ở bục cửa nhà mình, cô thấy có tờ giấy nhỏ của Teddy, nói rằng cô là người thầy tuyệt với nhất nó từng gặp trong đời.

Sáu năm sau cô lại thấy một mảnh giấy khác của Teddy. Nó viết rằng nó đã học xong trung học, được xếp hạng ba trong lớp, và cô vẫn là người thầy tuyệt vời nhất.

Bốn năm nữa trôi qua, cô lại nhận một lá thư khác của Teddy, cậu nói rằng tuy có lúc gặp khó khăn bất ổn trong đời, cậu vẫn theo đuổi việc học và sắp tốt nghiệp thủ khoa đại học. Cậu đoan chắc rằng cô vẫn là người thầy tuyệt vời, mà cậu yêu quý nhất trong đời.

Rồi lại bốn năm nữa trôi qua, lại một bức thư nữa được gởi đến cô. Lần này cậu giải thích là sau khi đỗ cử nhân, cậu quyết định tiến xa hơn. Bức thư nói rằng cô vẫn cứ là người thầy tuyệt vời, được yêu quý nhất trong đời cậu. Nhưng giờ đây, tên của cậu đã dài hơn, tên cậu ký bây giờ ghi thế này: Theodore F. Stoddard, Bác sĩ Y khoa.

Thế nhưng, câu chuyện chưa dừng lại ở đây. Đến mùa xuân lại có một bức thư khác. Teddy kể là cậu đã gặp một cô gái và họ sắp kết hôn. Cậu nói là cha cậu đã mất mấy năm trước, cậu hỏi rằng liệu cô có thể đến dự đám cưới và ngồi vào vị trí vẫn thường dành cho mẹ chú rể không.

Tất nhiên cô Thompson nhận lời. Bạn thử đoán chuyện gì xảy ra. Cô đã đeo chiếc vòng tay khuyết mấy hạt đó. Và cô cũng đã xức thứ nước hoa cũ mà Teddy nhớ là mẹ cậu vẫn thường dùng trong dịp lễ Giáng sinh cuối cùng họ ở cùng nhau.

Hai cô trò ôm choàng lấy nhau, và Bác sĩ Stoddar thì thầm vào tai cô, “ Thưa Cô, con cám ơn cô đã đặt niềm tin vào con. Cám ơn Cô rất nhiều vì cô đã làm cho con có cảm giác mình là quan trọng, chỉ cho con thấy rằng con có thể tạo ra điều khác biệt.” Cô Thompson, mắt đẫm lệ, khẽ đáp: “ Teddy, em nhầm hoàn toàn rồi. Em mới chính là người đã dạy cho cô rằng cô có thể làm nên điều khác biệt. Thực ra cô không biết dạy như thế nào cho đến  khi cô gặp được em.”


—————————————————
  1. Dấu X để đánh dấu chỗ sai trong bài làm, F là điểm kém.




THÂN TRỌNG SƠN
dịch và giới thiệu.





vendredi 2 novembre 2018

BỨC THƯ TRONG CHIẾC VÍ






Truyện ngắn
Arnold Fine
Nhà văn Hoa Kỳ
( 1924-2014 ) 



Truyện ngắn này được đăng trong tạp chí Reader’s Digest số tháng Chín, năm 1980. Trước đó, nó đã xuất hiện trong chuyên mục “ I Remember When “  của tuần báo The Jewish Press, do Arnold Fine phụ trách, đều đặn từ những năm 60 của thế kỷ trước. Trong loạt bài này, tác giả khắc hoạ những nét  làm sống lại hình ảnh, âm thanh, hương vị của thành phố Nữu Ước thời kỳ hai, ba chục năm trước đó. Những chuyện đời thường, giản dị mà chân thật, tiếp tục làm say đắm độc giả mọi lứa tuổi. Nhiều bài ở đây sau đó được in trong loạt sách Chicken Soup for the Soul. “The Letter in the Wallet “ được in lại trong rất nhiều tuyển tập truyện ngắn khác nhau, có lúc dưới nhan đề rút gọn “ The Wallet “.

Ngoài việc cộng tác với tạp chí The Jewish Press, Arnold Fine còn là một nhiếp ảnh gia, nhạc công và nhà giáo dục.
Ông đã từng có thời gian phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ. Sau chiến tranh, ông làm nhiếp ảnh gia, chuyên săn ảnh cho các báo địa phương. Muốn thăng tiến trong nghề viết báo, ông đi học lấy bằng BA rồi tiếp tục học MA về giáo dục, tham gia giảng dạy nhiều trường ở Nữu Ước. Ông chuyên giảng dậy các trẻ bị tổn thương não, được phụ huynh tin cậy, quý trọng.
Ông chơi được nhiều loại nhạc cụ ( clarinet, saxophone, piano ) .
Khi lớn tuổi, ông bị bệnh Parkingson nặng, phải di chuyển bằng xe lăn.
Ông qua đời ở tuổi chín mươi.



Một hôm, lúc đi dạo, tôi tình cờ nhặt được một cái ví trên hè phố. Bên trong chẳng có gì để nhận biết chủ nhân. Chỉ thấy ba đô la và một bức thư nhàu nát trông có vẻ như đã tồn tại từ nhiều năm rồi. Thứ duy nhất còn đọc được là địa chỉ người gửi. Tôi mở thư ra xem  mong tìm ra chút manh mối và thấy nó được viết vào năm 1924. Thư viết với nét chữ dịu dàng của con gái, trên giấy màu xanh lơ, với cánh hoa nhỏ nơi góc trái.
Thư kiểu «  Anh thân yêu “, nói với người nhận, tên là Michael, rằng mẹ cô gái không cho cô gặp anh nữa. Tuy nhiên, cô nói vẫn luôn yêu anh. Cô gái ký tên là Hannah. 

Mong muốn xác định chủ nhân chiếc ví, tôi quyết định gọi cho tổng đài, hy vọng sẽ biết được số điện thoại khớp với địa chỉ. Nhân viên tổng đài cho tôi gặp người phụ trách, cô này nói là không thể cho tôi số điện thoại, nhưng cô sẽ trực tiếp gọi, để xem người trả lời có đồng ý nói chuyện với tôi không. Vài phút sau, tôi gặp được người phụ nữ đầu dây bên kia, tôi hỏi bà có biết ai tên Hannah không. Bà đáp bà đã mua căn nhà này của một gia đình có cô con gái tên Hannah, nhưng chuyện đã xảy ra ba mươi năm rồi. Tôi hỏi: « Bà có biết hiện nay gia đình đó đang ở đâu không ạ? ». Bà cho biết cô gái đã đưa bà mẹ vào ở một viện dưỡng lão, và cho tôi số điện thoại nơi này. Người phụ nữ trả lời  máy cho biết bà cụ đã qua đời, nhưng bà biết số điện thoại nơi có thể cô con gái đang sống. Tôi cám ơn và gọi tiếp theo số này. Thêm một phụ nữ khác trả lời là chính Hannah nay cũng đang vào viện dưỡng lão.

Tôi thầm nghĩ:
“ Thật là chuyện ngu ngốc. Sao ta lại nhọc công thế này để kiếm cho ra chủ nhân chiếc ví chỉ có ba đô la và một bức thư viết cách đây đã sáu mươi năm? »

Tuy vậy, tôi cũng gọi đến viện dưỡng lão, nơi có thể Hannah đang sống. Người đàn ông trả lời xác nhận đúng là Hannah đang ở đây. Tuy đã muộn, tôi vẫn lái xe đến. Cô y tá trực và người bảo vệ đón tôi ở cổng, đưa tôi lên tầng ba một toà nhà lớn. Trong căn phòng chung, cô y tá giới thiệu tôi với bà Hannah, một bà già tóc bạc trắng, nụ cười hiền hậu, ánh mắt ngời sáng.

Tôi kể cho bà nghe về chiếc ví và đưa bà xem bức thư. Ngay lúc nhìn thấy bức thư với chiếc phong bì màu xanh lơ và cánh hoa nhỏ, bà lặng đi: “ Này chàng trai, thư này là dịp cuối cùng tôi liên lạc với Michael. “ Bà nhìn xa vắng, rồi mơ màng nói “ Tôi yêu anh ấy lắm. Nhưng dạo đó tôi mới mười sáu, mẹ tôi nghĩ tôi còn quá trẻ. Michael Goldstein là một người tuyệt vời.  Nếu có dịp gặp ông ấy, hãy nói là tôi vẫn nghĩ đến ông luôn. Thực vậy đó, cứ nói là tôi vẫn còn yêu ông ấy. Anh biết không, bà nói tiếp, nước mắt cứ tuôn ra,  tôi đã không kết hôn.Tôi nghĩ là không ai khác phù hợp với Michael đâu.” 

Tôi cám ơn, chào từ giã bà Hannah. Khi tôi ra đến cửa, người bảo vệ hỏi: “ Bà cụ có giúp gì cho ông không?” Tôi bảo bà đã cho tôi một manh mối.” Ít nhất nay tôi biết được họ tên chủ nhân chiếc ví. Nhưng tôi sẽ tạm ngưng theo đuổi vụ này ít lâu đã. “ Tôi giải thích là đã mất cả một ngày để truy tìm chủ nhân chiếc ví. Vừa nói chuyện, tôi vừa lấy chiếc ví da nâu có dây buộc đỏ đưa anh ta xem. “ Ồ, tôi biết cái này rồi. Ví của ông Goldstein đây mà! Ông ấy cứ làm mất mãi. Tôi đã nhặt được nơi sảnh nhiều lần rồi! “ 

Tay tôi run lên, tôi hỏi ông Goldstein là ai, đang ở đâu. Tôi cám ơn anh bảo vệ và chạy ngược lui phòng các y tá. Chúng tôi đi thang máy, hướng về tầng tám, cầu mong sao ông Goldstein hãy còn thức. Cô y tá đưa tôi đến căn phòng chung, nơi có ông lão đang ngồi đọc sách. Cô y tá đến gần hỏi có phải ông đánh mất ví không. Cô nói: “ Anh này tìm thấy chiếc ví và nghĩ có thể là của ông.” Cô đưa chiếc ví ra, vừa nhìn thấy, ông cười tin cậy. 
 “ Có chuyện này cháu muốn kể bác nghe, tôi nói. Cháu đã đọc bức thư trong đó, mong sẽ tìm ra chủ nhân chiếc ví. Và cháu còn biết bà Hannah nay đang ở đâu nữa.”

Mặt ông cụ bỗng tái nhợt. “ Hannah à? Anh biết bà ấy ở đâu sao? Bà vẫn xinh đẹp như ngày xưa chứ? Làm ơn nói tôi biết đi. Anh biết chuyện gì hả chàng trai? Ngày ấy tôi yêu nàng lắm, nên khi nhận được bức thư này, cuộc sống tôi coi như kết thúc. Tôi đã không kết hôn. Tôi vẫn yêu nàng mãi.”

“ Bác Goldstein, xin đi theo cháu”. Chúng tôi cùng đi thang máy xuống tầng ba. Đèn chiếu sáng lối đi dẫn đến căn phòng chung, nơi Hannah đang ngồi xem TV một mình. Cô y tá  tới gần nhẹ nhàng hỏi:  “ Bà Hannah, bà biết người này không? “ Cô đưa tay chỉ ông Michael, khi ông đang đứng cạnh tôi nơi cửa vào.

Bà chỉnh lại mắt kiếng, nhìn một lát nhưng vẫn không nói gì. “ Hannah, Michael nói. Bà có nhận ra tôi không?”  Bà Hannah há hốc miệng kinh ngạc.“  Ông chậm rãi đến gần bà và hai người ôm nhau . Cô y tá cùng tôi bước ra ngoài, mắt đẫm lệ. “ Thật là Ơn trên sắp đặt, tôi nói, chuyện gì phải đến sẽ đến thôi! “

Ba tuần sau, tôi nhận được điện thoại từ viện dưỡng lão: “ Chủ nhật này anh có thể gác công việc để đi dự đám cưới không?”. “ Thì Michael và Hannah đã quyết định gắn kết với nhau!” 

Đấy là một đám cưới thật dễ thương. Bà Hannah mặc chiếc áo đầm màu vàng nhạt, trông thật xinh đẹp. Michael mặc bộ lễ phục màu xanh sẫm, trông rất uy nghi.  Họ nhờ tôi làm phù rể.

Thật là một kết thúc tuyệt vời của một cuộc tình kéo dài gần sáu mươi năm!



THÂN TRỌNG SƠN
dịch và giới thiệu