mardi 12 septembre 2017
HOA THEO MÙA
Truyện ngắn
André Maurois
Nhà văn Pháp
( 1885-1967 )
Ông sinh năm 1885 tại Elbeuf, một thành phố nhỏ thuộc vùng Normandie, Tây Bắc nước Pháp. Sớm có năng khiếu văn chương từ nhỏ, cậu bé Émile Herzog lúc theo học trường trung học Corneille tại Rouen có may mắn được học với giáo sư Émile-Auguste Chartier, tức là triết gia Alain nổi tiếng. Chính vị giáo sư này đã phát hiện tài năng của học trò và hướng dẫn, khuyến khích cậu phát triển ngay từ phương pháp học tập ở lớp. Điều bất ngờ là thầy khuyên trò sau khi rời trường nên trở về làm việc trong xưởng dệt thảm của gia đình. Ông nghe lời thầy và trở về Elbeuf, tuy nhiên ông vẫn say mê chữ nghĩa nên trong phòng làm việc ông để sẵn nhiều tiểu thuyết của Balzac, ông chép lại nhiều trang của Stendhal để luyện viết văn, đồng thời tích cực học tiếng Anh.
Thế chiến lần thứ nhất xảy ra, ông nhập ngũ và được cử làm thông dịch viên và sĩ quan liên lạc tại một trung đoàn của quân đội hoàng gia Anh. Sự nghiệp văn chương bắt đầu từ thời gian này. Ông lấy bút danh André Maurois khi viết tác phẩm đầu tiên: " Sự im lặng của đại tá Bramble "( Les Silences du colonel Bramble ) năm 1918, tác giả sớm nổi tiếng để ba năm sau viết tiếp cuốn " Những bài diễn văn của bác sĩ O' Grady " ( Les discours du Docteur O' Grady ). Ông sẽ ký bút danh này trên tất cả tác phẩm của mình, và điều thú vị là bút danh này trở thành tên chính thức của ông kể từ năm 1947 bằng một nghị định của Tổng thống Pháp. Ông được bầu vào Viện Hàn lâm Pháp ( Académie française ) năm 1938.
André Maurois để lại hơn 100 tác phẩm thuộc đủ mọi thể loại: Nhiều tiểu thuyết tâm lý ( Bernard Quesnay, Climats – Mặc Đỗ dịch là Tâm cảnh -, Terre promise – Đất hứa – Les Roses de septembre – Những đóa hồng tháng chín -) có cuốn gần với truyện vừa và truyện ngắn, có khi có hơi hướng truyện giả tưởng ( Le peseur d’âmes – Người cân linh hồn -, La machine à lire les pensées – Máy đọc tư tưởng - . Có những tác phẩm nghiên cứu, khảo luận ( Un art de vivre – Một nghệ thuật sống -, Sept visages de l’amour – Bảy khuôn mặt tình yêu – Au commencement était l’action – Khởi đầu là hành động…) Ông còn là nhà viết sử với các cuốn Histoire de l’Angleterre ( Lịch sử nước Anh ), Histoire des Etats-Unis ( Lịch sử Hoa Kỳ ), Histoire de France ( Lịch sử nước Pháp ). Ông nổi tiếng nhất với một loạt tác phẩm viết tiểu sử các văn nghệ sĩ ( Shelley, Byron, Victor Hugo, George Sand, Balzac, Tourgueniev, Voltaire, Chateaubriand, Marcel Proust ), các chính trị gia ( Disraeli, Lyautey ), và cả nhà khoa học ( Alexandre Flemming )…
Độc giả Việt Nam đã biết đến Ông với bản dịch ( của Nguyễn Hiến Lê ) các tác phẩm “Thư gởi người đàn bà không quen biết” ( Lettre à une inconnue ) và nhất là “Thư ngỏ gửi tuổi đôi mươi” ( Lettre ouverte à un jeune homme sur la conduite de la vie ), là tác phẩm Ông viết ở tuổi 80, trong đó ông giải đáp mọi thắc mắc của thanh niên về nhiều vấn đề: quan niệm sống, tu dưỡng, hôn nhân, việc làm, viết văn, tiêu khiển, tình yêu, tín ngưỡng…
Ông cũng chính là người đã dịch bài thơ IF nổi tiếng của Rudyard Kipling ra tiếng Pháp với nhan đề Tu seras un homme, mon fils.
Étienne Carlut xuống xe taxi trước cửa chính của nghĩa trang Montparnasse. Anh ôm một bó hoa cúc rực cháy sắc nồng mùa thu, từ đỏ sẫm đến vàng nhạt. Khi anh đi ngang qua chỗ hai người gác cổng, một trong hai người chào anh. Vướng bó hoa, anh chỉ gật đầu đáp lại.
Sếp quen ông ta à?
À, quen sơ thôi. Ông ấy là giáo sư. Bà vợ vừa mất cuối tháng chín, an táng ở khu số bảy. Thứ năm nào ông cũng đến, ngày đó ông không có giờ dạy... Ông ta giải thích với tôi vậy... ngay ban đầu.
Goá vợ mà còn trẻ quá... Ông ấy sẽ không đến đây lâu đâu...
Ai mà biết... Không, không biết được. Điều đó cũng tuỳ người thôi.
Nếu họ đem chuyện đó hỏi người đàn ông có râu ngắn, mặc toàn đồ đen, vụng về với bó hoa cúc, khi thì ôm trong tay như ôm đứa bé, khi thì cầm ngoặt ra sau lưng, anh ta sẽ trả lời là anh sẽ đến đấy mỗi thứ năm cho đến lúc chết, cái chết mà anh mong sẽ đến sớm.
Lucile mất đi đột ngột như một tai hoạ khủng khiếp mà tâm trí anh không sao chấp nhận được. Hai người lấy nhau được năm năm và nàng đã làm thay đổi cuộc đời anh. Trước khi có nàng, anh là một người nghiêm nghị ( hơi buồn tẻ, như nhận xét của nhiều phụ nữ ), chỉ quan tâm đến công việc. Anh thích giảng dạy, chấm bài, chuẩn bị luận án tiến sĩ. Cuộc sống bên ngoài hầu như không tồn tại trong mắt anh.
Đột nhiên, tại một khách sạn miền núi, nơi anh đi nghỉ hè, anh đã gặp Lucile, mái tóc vàng óng, đôi mắt tím biếc, chiếc cổ thon, đôi vai tròn lẳng, một vẻ đẹp hiếm có đến nỗi trong suốt năm năm chung sống đó, anh vẫn khó tin là có thật. Ngay cả những lúc ôm vợ trong lòng, gần gũi nhau, khi nàng ngước nhìn anh khép nép ngoan chiều, anh vẫn tưởng như nàng là nhân vật huyền thoại hay cổ tích. Nàng gợi cho anh nhớ đến những nhân vật của Shakespeare hay Musset. Những khi liên tưởng như thế, anh lại tự trách mình là ngay cả trong tình yêu cũng tỏ ra là ông giáo cố chấp, một người thông thái rởm. Không, Lucile không phải là bản sao của những nhân vật tưởng tượng, mà là một người phụ nữ có nụ cười dịu dàng, nét mặt lanh lợi, thân hình mềm mại, tươi mát. Vốn đỏm dáng, nhiều lúc nàng trêu chọc anh và làm anh lo lắng. Anh chỉ còn nhớ đến vẻ quyến rũ không gì sánh được của nàng.
Mình đã mất đi nhiều hơn cái mình có, anh tự nhủ khi đi về phía ngôi mộ của nàng, nơi linh thiêng đối với anh.
Khu thứ ba phía nam, khu thứ hai phía tây. Những tuần đầu tiên anh cần tới những chỉ dẫn đó để tìm đường. Bây giờ, anh đi thẳng đến tấm đá cẩm thạch màu xám tro, trên có ghi đơn giản: Lucile Carlut, nhũ danh Auban (1901-1928). Có lúc anh muốn ghi dòng chữ la tinh: Conjugi, amicae (1) nhưng anh nghĩ là nàng sẽ không tán thành. Để tới nơi nàng yên nghỉ, anh đi ngang qua những huyệt mộ các gia đình quyền thế, những công trình xấu xí, cái thì xây kiểu gô tích, cái thì theo kiểu Ai cập, phô bày sự giàu có của tay trùm đồ sắt thép hay hàng tạp hoá. Anh yêu thích biết bao tấm bia đá trơn, không trang trí, là món quà cuối cùng anh tặng vợ. Cuối cùng ư? Không hẳn vậy, vì anh vẫn còn những đoá cúc kia, nàng vẫn thường chuộng màu sắc rực rỡ của loài hoa này. Lẽ nào nàng lại nằm dưới mộ này? Anh tưởng như đang nghe giọng nàng nói:
Anh lại mang hoa đến cho em đấy à? Thật đáng yêu quá!
Anh vẫn còn nhớ là anh đã không tin, đã phủ nhận dứt khoát khi bác sĩ nghe nhịp tim đập của Lucile và nói: "Xong rồi!" Lẽ nào nàng lại bỏ anh một mình? Lucile vẫn luôn ân cần, chu đáo và không bao giờ nản chí mà!
Anh đặt nghiêng bó hoa dưới dòng chữ trên tấm bia, và đứng đó, mặc niệm. Cứ mỗi tuần anh vẫn cố ôn lại những giai đoạn của quãng đời hạnh phúc: đính hôn, tuần trăng mật, những đêm dài ân ái, phút thân mật ngọt ngào mỗi lần anh ngồi vào bàn làm việc, ngước mắt nhìn lên và bắt gặp nụ cười kín đáo, chia sẻ của nàng, rồi những ngày xao xuyến chờ đợi đứa con ra đời. Hai người hoàn toàn hợp ý nhau, từ việc trang trí căn nhà đến những vở kịch mà họ muốn cùng xem chung. Nàng còn hiểu rõ anh đến mức có thể trả lời đúng cái câu mà anh chưa kịp nói ra. Vậy mà giờ đây anh chẳng còn vợ, chẳng có con.
Lucile tội nghiệp! Lời nói cuối cùng của em là để anh yên tâm. Rồi, giữa chừng...
Suốt mùa đông, anh trở lại vào các ngày thứ năm. Mỗi lần, anh mang đến một loại hoa khác nhau, bày tỏ trí tưởng tượng muốn làm vui lòng người đã khuất như trước đây đã từng làm đẹp lòng người sống. Dịp lễ Noel, anh nhớ lại niềm vui như trẻ nhỏ của Lucile khi nhìn thấy cây thông sáng rực với những món quà treo dưới cành cây, anh trang trí mộ vợ bằng những cành lá xanh, bằng cây ô rô (2), cây thạch thảo (3). Rồi, tuần qua tuần, ngày tháng cứ nối dài ra. Anh thấy trên những chiếc xe bán hoa những loại hoa mới. Một ngày tháng ba, anh mang đến những bông hoa violet và hoa báo xuân (4). Bầu trời trong xanh, khí trời ấm áp, ánh nắng đùa giỡn trên những tấm đá. Anh cảm thấy thoải mái, và ngay lúc đó lại tự trách mình.
Vẫn như mọi lần, anh bước vào nghĩa trang như đang mơ. " Em thích mùa xuân. Ngày đầu tiên có thể đi ra ngoài không mặc áo khoác, với vài bông hoa cài lên ve áo, em tỏ vẻ hân hoan. Anh sẽ không bao giờ được ngắm dáng đi thiên thần của em nữa rồi..." Bất chợt anh quay đầu lại. Một thiếu phụ bận đồ đen vừa bước vào và dừng lại trước một ngôi mộ, cách chỗ anh chừng mười mét. Chị ôm bó hoa và đặt lên mộ một cách duyên dáng. Sau đó, chị quỳ xuống trên nền mộ.
Cái mũ của chị che khuất một phần khuôn mặt. Étienne chờ đợi khoảnh khắc chị quay đầu lại. Khi chị đứng lên, anh thấy chị đang khóc. Nét mặt chị nghiêm trang, tinh khôi. Mái tóc đen che trùm vầng trán rộng. Chiếc áo khoác, kiểu dài bó sát người, làm nổi bật thân hình mảnh mai. Trước khi ra đi, chị không hề nhìn ra xung quanh. Chị đi xen giữa những ngôi mộ và những nhà mồ để ra lối cổng. Khi nghe tiếng bước chân chị trên đường sỏi, anh đến nhìn tấm bia mà hồi nãy chị quỳ phía trước. Antoine Constant - 1891-1928. Vậy là chị vừa mất chồng, chứ không phải cha, cũng không phải con trai. Rồi anh lại nghĩ: "Có thể là người tình". Nhưng anh cũng không tin chắc.
Thứ năm sau, anh đến đúng vào giờ đó, mà không nghĩ là mình mong gặp lại người ấy. Chị không đến. Anh chờ lâu và buổi mặc niệm lần này buồn bã hơn thường lệ. Anh thấy xót xa. Cuộc sống của anh hoàn toàn trống trải. Anh không có bạn thân. Lucile và anh cố tình giữ cách biệt nghiêm ngặt với gia đình để họ không thể can thiệp vào cuộc sống của hai vợ chồng, bởi cả hai đã đủ cho nhau.
"Thật khác nhau xa, anh nghĩ, giữa những tối ấm cúng ngày trước và cuộc sống cô đơn hiện nay! Buồn biết mấy khi phải ăn tối vội vàng, chẳng thấy ngon miệng, rồi đến ngồi trên chiếc ghế bành, đọc mấy tờ báo ban chiều, cố tìm hứng thú trong trang sách mà không được, rồi chờ đợi hàng giờ giấc ngủ chẳng chịu đến cho."
Anh say mê công việc khi có thể chia sẻ với vợ. Anh đọc cho chị nghe một câu, chờ đợi phản ứng của chị mà anh biết lúc nào cũng nhạy bén, thông minh. Rồi đến giờ hai người cùng về phòng ngủ. Mặc áo ngủ, tóc tai buông xoả, chị trông đáng yêu biết bao. Chẳng lẽ anh sẽ không bao giờ còn được hưởng niềm vui nồng nàn ấy nữa?
Không bao giờ nữa! Phải nói là "không bao giờ nữa" anh được vuốt ve âu yếm, bởi chỉ ý nghĩ tái hôn, thậm chí chỉ ve vãn một phụ nữ nào khác với anh đã là tội lỗi rồi. Làm sao anh có thể nhắc lại với người khác những lời mà anh chỉ dành cho chị? Làm sao anh có thể đưa một người nào khác vào trong căn nhà anh đã hoàn toàn dành để tưởng nhớ Lucile? Đồ đạc trong nhà chỗ nào cũng có ảnh chị. Trong tủ, quần áo của chị vẫn ở đúng vị trí chị đã treo. Bà Auban, mẹ vợ anh, từ dưới tỉnh lên, sau đám tang đã gợi ý anh mang đi cho hội từ thiện.
Đúng thế đấy... Con cũng chẳng dùng chúng làm gì, con ạ... Chúng chỉ làm con thêm buồn thôi.
Anh cảm thấy ý nghĩ đó tội lỗi và tệ hại.
Một bà già đi ngang qua gần anh, tay mang một bình sắt đầy nước, chắc là để tưới hoa. Một đám mây che khuất mặt trời. Étienne rùng mình, đưa mắt nhìn lần cuối tấm biển gắn trên đá cẩm thạch xám, rồi bước ra. Nhưng rồi, dù không cố ý, thay vì đi thẳng đến lối cổng chính, anh lại ngoặt vào phía trước ngôi mộ của Antoine Constant. Trên mộ có bó hoa diên vỹ (5) còn tươi. Người phụ nữ chưa quen biết ấy đã đến đây hôm trước, có thể là sáng nay.
Thêm hai ngày thứ năm nữa anh vẫn không gặp chị. Lần thứ ba, khi anh đến thì chị đã có đấy rồi. Étienne có cảm giác như chị liếc nhìn trộm bó hoa anh đang cầm. Hoa tu lip, màu đỏ và vàng. " Không, chẳng có vẻ gì tang tóc", anh nghĩ thầm. Có sao đâu... Em vẫn thích loại hoa này. Em vẫn thường nói: Phải đánh thức căn phòng khắc khổ này... Than ôi! Em mới chính là người anh muốn đánh thức, đôi má thơm tho của em, vầng trán ấm áp của em". Rồi, đến lượt anh liếc nhìn người phụ nữ áo đen và chú ý xem chị mang hoa gì đến. Cũng như anh, chị chọn hoa màu sáng, nhưng là hoa cẩm chướng chứ không phải tu lip.
Sau hôm đó, thứ năm nào anh cũng gặp chị. Có hôm chị đến trước anh, có hôm đến sau, nhưng bao giờ cũng là thứ năm. " Có thể là vì mình" anh tự nhủ. Tuy thế, anh vẫn chờ chị đến với một sự xúc động mơ hồ. Cả hai người đều chăm chút chọn loại hoa và bây giờ quan sát mạnh dạn hơn, xem người kia mang đến cho người đã khuất loại hoa gì. Hầu như giữa hai người có sự ganh đua và người dưới mộ cũng thụ hưởng vì các bó hoa ngày càng đẹp hơn. Cả hai cùng mang hoa hồng đầu mùa đến, nhưng hoa của chị màu đỏ, còn của anh là hồng nhung. Rồi hai người đều mang đến những cành lay-ơn đủ sắc màu rực rỡ như pháo hoa.
Anh chờ cho chị đi khá xa rồi mới ra về, sợ làm chị bối rối khi thấy anh có vẻ như muốn đi theo hay muốn nói chuyện. Chị thì rõ ràng không muốn vì lần nào chị cũng bước vội và không ngoái nhìn lui.
Một ngày tháng năm, khi anh đang băng qua khu mộ cổ sang trọng để đi về phần mộ của Lucile, anh nghe tiếng ồn ào và thấy người gác cổng - mà anh đã quen - đang nắm cánh tay bà lão mà anh đã từng thấy mang bình nước. Bà lão cố rút tay ra. Người gác cổng muốn nhờ thiếu phụ áo đen làm chứng, và lên tiếng khi thấy anh:
Thưa ông, việc này cũng liên quan đến ông đấy!
Étienne tiến gần lại, tay vẫn đang ôm bó hoa:
Có chuyện gì thế?
Tôi bắt quả tang ả này lấy trộm hoa. Đúng vậy, thưa bà. Ả đã lấy hoa trên mộ chồng bà, và trên mộ bà nhà nữa, thưa ông... Tôi đã rình mấy tuần nay rồi, và lần này mới bắt tận tay, day tận mặt.
Thiếu phụ có vẻ bối rối.
Thôi, ông thả bà ta ra đi. Việc ấy có quan trọng gì với tôi đâu. Hoa cũng đã héo rồi, tôi đến thay hoa mới đây mà.
Héo ư? người gác cổng nói, - Không phải héo hết cả đâu. Ả đã khéo chọn, trong mỗi bó chỉ chọn lấy những hoa còn tươi. Đây này, bà thử đến ngôi mộ số 107, khu thứ tám mà xem... Ả đã cắm trong bình cả một bó hoa linh lan (6) mà chắc là không tốn bao lăm tiền mua. Hoa đó lấy từ khắp các mộ.
Thế thì có gì xấu? Thiếu phụ nói. Bà ta có lấy hoa đem bán đâu.
Tại sao bà làm như thế? Étienne nói với bà lão.
Anh nhìn bà lão kỹ hơn, mặt bà không có vẻ tầm thường. Bà lão cúi đầu.
Tại sao bà lại làm như vậy? Anh nhắc lại. Bà không có tiền mua hoa phải không? Phải vậy không?
Bà lão ngẩng đầu lên:
Đúng vậy, tôi không có tiền. Chuyện ấy thì đã làm sao? Thưa bà, bà sẽ làm gì nếu bà có đứa con trai nằm dưới mộ kia và ông chồng keo kiệt không đưa tiền để mua một nhánh linh lan hay một bó violet? Hả? Bà sẽ làm thế nào?
Tôi sẽ làm như bà thôi, thiếu phụ áo đen mạnh dạn trả lời.
Thôi được, người gác cổng nói, nhưng tôi còn nhiệm vụ của tôi chứ.
Ông bỏ mũ ra, buông tay thả bà lão, và phân bua với Étienne:
Thưa ông, ông thấy thế nào? Hẳn là ông đã từng ở trong quân đội?... Mệnh lệnh là mệnh lệnh... Tôi đâu có cứng rắn hơn người khác, nhưng công vụ, công vụ...
Cũng không ai kêu ca gì, Étienne nói. Bà đây và tôi, thứ năm nào chúng tôi cũng đến đây để thay hoa. Nếu như trong số hoa của tuần cũ có ai thấy có những cánh hoa còn tươi thì cũng tốt thôi.
Vâng, vâng..., người gác cổng nói. Nếu ông bà vui lòng, mọi người cũng đều vui lòng cả.
Rồi ông ta quay sang bà lão bị bắt tội:
Bà có thể đi được rồi đấy.
Étienne cho bà lão một ít tiền, và thiếu phụ áo đen cũng cho thêm chút ít. Rồi Étienne đến mặc niệm trước mộ Lucile như mọi lần. Nhưng lòng vẫn còn xáo động bởi chuyện vừa rồi, anh không thể tĩnh tâm như những lần trước. Những hình ảnh quen thuộc anh cố gợi lại đều thoát khỏi anh. Khi thiếu phụ áo đen ra về, anh cân nhắc rồi quyết định đi theo.
Cám ơn ông, chị nói. May sao hồi nãy ông đến kịp. Đàn ông lúc nào cũng có uy thế hơn.
Bà lão tội nghiệp! Bà và tôi có thể hơn ai hết thông cảm lòng mong muốn làm cái gì đó cho người thân yêu dù là nhỏ nhoi thôi.
Đúng như vậy... Vì người thân, mà cũng vì chính mình.
Để giữ cho họ sống mãi trong ta.
Chị ngạc nhiên nhìn anh, tỏ vẻ cám ơn.
Ông cũng có những cảm giác y hệt tôi... Hơn nữa, đã từ lâu tôi nhận thấy lòng tha thiết của ông khi ông chọn hoa... Ông yêu vợ lắm phải không, ông Carlut?
Bà biết tên tôi?
Một hôm, không có ông ở đây, tôi đã đọc... Tôi biết là bà nhà mất khi mới 27 tuổi... Thật kinh khủng.
Kinh khủng lắm! Cô ấy thật hoàn hảo. Xinh đẹp, dịu dàng, đầy trí tuệ.
Thế thì ông cũng giống tôi, tôi đã mất người chồng tốt nhất trên đời. Thật vậy, tôi chưa thấy có người phụ nữ nào được yêu thương nồng nàn như thế, được bảo bọc ân cần như thế... Hầu như là hơi quá... Antoine đã làm tất cả vì tôi và anh ấy mất đi khiến tôi thấy hoàn toàn hụt hẫng.
Ông nhà mất còn trẻ quá! Vâng, thú thật là vì chút tò mò... và thiện cảm nữa... tôi đã đọc dòng chữ trên bia... 1891-1928... Ông ấy vì sao mà mất vậy?
Tai nạn xe hơi... Người ta mang anh ấy về bất tỉnh nhân sự. Sáng hôm đó khi từ biệt tôi anh ấy vẫn tràn trề hạnh phúc... Anh ấy mới được thăng chức trưởng phòng.
Ông nhà là công chức?
Không... Một nhà máy hoá chất lớn. Mới 37 tuổi anh ấy đã là nhân vật thứ ba của xí nghiệp. Chẳng mấy chốc nữa mà thành người đứng đầu.
Ông bà có cháu nào chưa?
Ngay cả niềm an ủi đó tôi cũng không có được.
Họ đi đến cổng chính. Người gác cổng chào họ, vẻ hóm hỉnh.
Này, ông ta nói với người cộng sự khi hai người đi qua xa... Trông cũng được nhỉ... Biết đâu đấy!
Thứ năm sau, như một thoả ước đã định, hai người cùng đi chung đoạn đường sau khi viếng mộ. Étienne kể về cuộc đời của mình. Anh là giáo sư toán ở một trường trung học lớn tại Paris, anh cũng có viết lách. Một tờ tạp chí nhờ anh viết phê bình văn học.
Khi nhà tôi mất, tôi đã bắt đầu viết một vở kịch. Giờ tôi chẳng có can đảm để tiếp tục.
Ông nên viết tiếp, chị nói. Bà nhà cũng mong như vậy đấy.
Anh phấn khởi:
Ồ, vậy sao! Hẳn là thế. Cô ấy thường động viên tôi theo con đường này.
Bà Constant nói bà cũng thích kịch. Bà đã theo ngành văn chương khá chuyên sâu: hai bằng tú tài, một bằng cử nhân tiếng Anh.
Tốt quá đi chứ! Và sống giữa giới thương gia không làm bà nản sao?
Không đâu, chừng nào Antoine còn sống. Để anh ấy vui lòng, tôi tiếp chuyện bất cứ ai... Theo sở thích thì tôi mong gặp các nhà văn, nghệ sĩ, nhưng cùng với anh ấy...
Anh hỏi chị đã thăm đài kỷ niệm của Sainte- Beuve(7), của Baudelaire(8) trong nghĩa trang này chưa. Chị bảo không biết, anh tình nguyện đưa chị đi xem. Chị cho rằng những ngôi mộ đó xấu xí thôi.
Không đâu, anh nói. Chỉ là cách nhìn của từng thời đại.
Vậy là hai người đã cùng nhau đi dạo một đoạn đường dài, trò chuyện sôi nổi đến nỗi không nhìn thấy trời phủ mây đen và cũng không nghe tiếng gầm xa xa báo hiệu cơn dông sắp đến. Khi họ về đến cổng, mưa bắt đầu rơi nặng hạt.
Tôi sẽ đi taxi, chị nói. Có bến xe ở đằng kia.
Tôi cũng bắt chước bà. Chẳng phải là mưa rào đâu, cả một trận đại hồng thuỷ đấy.
Họ rảo bước, và thấy quần áo đều ướt sũng, nên vụt chạy. Nơi bến chỉ có một chiếc taxi.
Bà lên xe nhanh đi, anh nói.
Thế còn ông?
Tôi sẽ đợi. Chắc sẽ còn xe khác.
Đợi trong thời tiết thế này à? Không chắc có xe đâu. Tôi không thể để ông xuống dọc đường sao?
Bà về đâu?
Nhà tôi, đại lộ Mozart.
May quá! Tôi ở ngay gần đó, đường la Pompe. Tôi sẽ để bà xuống trước.
Hai người cứ nhường nhau, cuối cùng chị nhượng bộ và cho địa chỉ. Khi cả hai cùng ngồi trong taxi, họ có vẻ hơi thẹn thùng. Mỗi người cố lui về một góc và không ai nói gì. Anh nhớ lại một tối kia, anh đưa chân cô bạn đồng nghiệp ở trường về và Lucile bắt gặp. Nàng giận.
" Nếu em không nhìn thấy, liệu anh có kể cho em nghe không?
Anh trả lời: Kể chứ. Chị ta bị mệt và cần đến anh, anh không thể bỏ mặc chị ấy được... Vả lại, chị ấy hơn em đến hai mươi tuổi mà.
Điều ấy chứng minh được gì nào? Chị ấy trông vẫn còn được lắm."
" Em sẽ nói gì đây", anh thầm hỏi Lucile khi xe chạy ngang ga Montparnasse, " em sẽ nói gì khi nhìn thấy anh ngồi trong xe với một phụ nữ trẻ đẹp... và còn sống." rồi anh lại nghĩ tiếp," anh tưởng như em đang ngồi với anh trong chiếc xe này, ngực em căng phồng chiếc áo đen... Anh cảm thấy thật xấu hổ khi mọi tình cảm như đang trỗi dậy nơi anh. Anh cần có em biết mấy!" Người thiếu phụ áo đen nhìn anh thông cảm và mơ màng.
Ông thật bất hạnh, chị nói. Chúng ta đều bất hạnh.
Bà sống một mình?
Vâng... Đúng hơn là có Amélie, bà giúp việc. Ồ, bà ấy tốt lắm. Trước đây bà nuôi chồng tôi. Bà làm hết mọi việc trong nhà... Còn ông thì sao?
Tôi cũng vậy, một mình. Sáng sáng bà giúp việc đến, và năm giờ chiều thì về, để lại cho tôi bữa ăn tối lạnh ngắt.
Anh nói chuyện khó nhọc, không thể bộc bạch những ý nghĩ thực sự cũng như mối xúc cảm đang trỗi dậy nơi anh bởi sự có mặt thật gần gũi của một thân thể phụ nữ. Mặt trời đã hiện ra trở lại, chiếu lấp lánh mái vòm vàng rực của điện Invalides (9).
Trời đẹp quá, anh nói. Bà có như tôi cảm thấy buồn tủi bởi vì cuộc sống vẫn đẹp vậy mà...
Chị nói, giọng tha thiết:
Tôi không nói nên lời được nhưng tôi cảm thấy điều đó.
Anh hỏi có phải tuần nào chị cũng đi taxi đến nghĩa trang không.
Vâng, vì còn bó hoa. Khi chồng tôi còn sống, chúng tôi có xe hơi nhưng chỉ anh ấy cầm lái.
Tôi cũng đi taxi, cũng vì lý do ấy... Những bông hoa...
Anh do dự một hồi rồi cất tiếng, giọng rụt rè, nhỏ nhẹ:
Có thể nào... Thật ra thì...bà có thấy kỳ quặc không, tôi với bà cùng đi một quãng đường, cùng một ngày, liệu chúng ta có thể đi chung taxi không? Tôi sẽ đến đón bà.
Ông tốt quá... Nhưng tôi không muốn để Amélie... Có trời mới biết bà ấy sẽ nghĩ gì khi thấy tôi cùng đi với ông.
Vậy thì ta làm ngược lại. Bà sẽ đi taxi và qua đón tôi. Tôi chờ sẵn trước nhà.
Có lẽ như vậy tốt hơn. Nhưng còn họ... ông nghĩ là hai người sẽ chấp thuận?
Sao lại không? Chúng ta cùng thực hiện nghĩa vụ về trìu mến và yêu thương.
Để tôi suy nghĩ thêm. Dẫu sao tôi cũng không thể để ông trả tiền xe đâu.
Chuyện ấy có gì khó đâu. Nếu bà muốn, chúng ta sẽ cùng trả.
Cứ để xem đã, chị nói. Đến nhà tôi đây rồi.
Chị cởi găng tay và đưa tay cho anh bắt, bàn tay với ngón dài trắng muốt, có đeo nhẫn.
Ngày thứ năm sau, mỗi người tự đi đến nghĩa trang, nhưng lúc ra về, không hẹn trước nhưng cả hai đều cùng đi đến bến xe và về chung xe taxi. Trên đường về chị nói: " Tôi đã suy nghĩ về lời mời rất tử tế của ông. Tôi thấy có thể chấp thuận được. Đúng là thật vô lý nếu cứ mỗi tuần mình phải trả tiền hai xe. Vả lại có ông tôi thấy yên tâm hơn. Thứ năm tuần sau tôi sẽ đón ông."
Và điều đó trở thành lệ. Chị đến đường la Pompe, bó hoa đặt trên đầu gối, anh đứng đợi trước cổng, bó hoa trên tay. Xe dừng, Étienne bước lên. Hai người đã quyết định không đi thẳng đến cổng nghĩa trang để người gác cổng khỏi thấy họ đi chung. Họ xuống xe ở chỗ rẽ, và từ đấy họ giữ khoảng cách để đi vào sau khi mỉm cười kín đáo trao lời " Hẹn lát nữa gặp lại ".
Từ ngày cùng nhau đi chung đường, họ nói với nhau được nhiều chuyện hơn. Hoa là một trong những chủ đề đầu tiên. Cả hai đều thích hoa mùa hè và những bó hoa đồng nội có hoa thanh cúc (10) cắm xen với bông lúa mạch. Từ nay họ tự chọn và kết những bó hoa, tất nhiên là vì những người xấu số dưới mộ, nhưng cũng vì cả người cùng đi viếng.
Do công việc phê bình, Étienne phải đọc rất nhiều, và anh hướng dẫn chị đọc, cho chị mượn sách. Khi chị trả lại, anh lấy làm ngạc nhiên về những nhận xét chính xác của chị. Có lẽ chị có nhận thức chuẩn mực hơn cả Lucile. Vừa thoáng có ý nghĩ đó anh lại tự trách mình.
Họ thoả thuận với nhau là sẽ không rời Paris suốt mùa hè, trừ phi đi về vài ngày thăm gia đình ở tỉnh. Ngày giỗ của Lucile được tổ chức vào tháng bảy. Anh rất cảm động thấy Gabrielle Constant ngồi ngay hàng ghế đầu trong nhà thờ. Nay anh đã biết tên thiếu phụ áo đen.
Tôi không thích lễ lượt kiểu này, chị nói với anh, nhưng đấy là truyền thống gia đình.
Sang tháng tám, trời nóng bức, chị tự cho phép mình mặc đồ tang hai màu trắng và đen.
Anh Antoine không thích tôi mặc đồ đen, chị nói như để giải thích và thanh minh.
Một buổi tối, anh mời chị đi ăn ngoài trời, ở vùng ven Paris. Ngồi nơi chiếc bàn nhỏ, trong bóng tối, hai người nói chuyện với nhau, gần gũi, tin cậy.
Antoine rất thích ăn tối trong Rừng(11), quả thật là rất thú vị... Paris và rừng cây xen vào nhau... Nhiều lần đi làm về anh ấy bất ngờ nói: " Nào, mình vào rừng đi!" Thật là một người chồng tuyệt vời.
Thật ra có một ông chồng như thế không quá khó với một phụ nữ như bà.
Tại sao?
Vì bà có tất cả, sắc đẹp, tâm hồn, và một tính cách tuyệt hảo...
Ông đừng quá khen. Ông đâu đã hiểu hết tôi. Đã có lúc tôi gây cho Antoine nhiều chuyện khủng khiếp.
Đúng vậy. Tôi chẳng nghĩ bà có thể như vậy.
Chị cười, rồi nói tiếp, vẻ mặt thoáng chút u buồn.
Có đấy. Antoine tội nghiệp. Anh ấy rất cả ghen... Còn tôi, tin ở lòng chung thuỷ của mình, có khi tôi cũng đùa với lửa... Anh ấy giận, tôi cãi lại. Tôi ân hận vì đôi khi đã làm anh ấy bực. Nhưng thường là lỗi tại anh ấy thôi.
Bỗng nhiên, lòng đầy hối tiếc, chị nhìn anh sợ hãi, van lơn, trìu mến.
Trời ơi, tôi vừa nói chuyện gì vậy? Ông hãy quên đi! Buổi tối êm đẹp như thế này làm người ta dễ thổ lộ tâm sự, đôi khi cả những điều không nên nói ra... Một buổi tối như thế này, chị nói tiếp, giọng tuyệt vọng, tôi rất cần có anh ấy bên cạnh...
Trong đêm tối, những giọt nước mắt ràn rụa trên mặt. Chị quay đi, lấy khăn lau mắt.
Tôi còn trẻ, trẻ quá, nhưng đời tôi thế là hết rồi... Tôi là người phụ nữ bất hạnh nhất trên đời.
Anh đặt bàn tay trên tay chị.
Không, anh nói. Đâu phải mọi chuyện đã hết đối với bà... Cuộc đời không hẳn như vậy. Các mùa kế tục nhau mỗi năm, và mang đến những sắc hoa riêng... Buông theo những ám ảnh của quá khứ đâu phải là tốt lành cũng chẳng khôn ngoan... Làm như vậy khiến kỷ niệm mất đi tính nhân ái... Vâng, đúng vậy... Kỷ niệm giúp cho ta sống, đâu phải ngăn trở cuộc sống, cho chúng ta thêm can đảm, đâu phải tước bỏ đi... Bởi vì bà với tôi đều đã trải qua cuộc sống lứa đôi hạnh phúc, chúng ta đều biết là có thể có một cuộc hôn nhân hoà hợp... Bà không tin vậy sao?
Chị để yên tay mình trong tay anh, nhìn anh qua làn nước mắt với vẻ nghi hoặc, rồi lắc đầu.
Không, tôi không tin... Điều buồn nhất, không phải là chính nỗi buồn, mà là vì không thể cảm thấy buồn được nữa... Tôi đã thề sẽ thuỷ chung.
Tôi cũng thế! anh trả lời, gần như cao giọng. Còn đau khổ là vẫn còn tình yêu.
Người phục vụ đến mời họ gọi món tráng miệng. Chị chọn dâu tây ngâm đường, và hướng câu chuyện sang những đề tài bớt riêng tư hơn.
Hôm sau, như thường lệ, chị đến đón anh cùng đi ra nghĩa trang. Suốt dọc đường, cả hai đều cảm thấy ngượng ngùng, thiếu tự nhiên. Người tài xế cáu kỉnh không ngớt càu nhàu về khách qua đường, về cảnh sát, về thời tiết. Đứng trước các ngôi mộ, thời gian mặc niệm của mỗi người có vẻ lâu hơn những tuần trước. Khi ra cổng, họ đi ngang qua một đống đá vỡ vụn. Có thể thấy những thân cột, những mảnh bia còn vài chữ: " đời đời nhớ..., tưởng nhớ... ". Chị dừng lại. - Đây là khuôn viên mộ nhượng lại, nay không còn được chăm sóc, anh nói. Khi một nấm mộ không ai thăm viếng trong vài năm, rồi nó đổ nát, họ phá đi để lấy chỗ.
Étienne, chị nói ( lần đầu tiên chị gọi tên anh ), tôi thấy cảnh này buồn lắm. Những người đã khuất này chẳng còn ai, không ai nhớ đến họ nữa, họ lại chết một lần nữa.
Anh khoác tay chị và chị nép vào người anh.
Trên xe taxi về nhà, họ bàn về cuốn sách anh hứa cho chị mượn, anh ngỏ ý mời chị ghé lại nhà để lấy sách. Lần đầu tiên kể từ khi quen anh, chị bước chân vào nhà anh. Trên các bàn, trên tường, trên bàn làm việc, chỗ nào cũng thấy ảnh của Lucile.
Em có thấy cái nhà âm u này đã bừng sống lại từ khi em bước vào không?
Chị nghĩ là anh sẽ ngỏ lời cầu hôn, nhưng chị không muốn điều đó diễn ra ngay trong căn phòng dành riêng cho để tưởng nhớ một người khác.
Tối nay anh sẽ làm gì? chị hỏi.
Chưa định làm gì. Hay ta đi ăn tối nhé?
Chị gật đầu, đưa tay cho anh hôn rồi ra về.
Chị lang thang một mình ở ngoài đường mãi mới về nhà. Bàng hoàng, nhưng hạnh phúc, chị ngạc nhiên thấy mình lại thấy yêu đời.
Chị nghĩ thầm: Tất nhiên anh Antoine không muốn mình từ bỏ tình yêu ở tuổi này... Hẳn anh cũng mong mình đi bước nữa... Nếu mình chết trước, mình cũng mong như thế...
Tất cả những điều đó đều là thực, nhưng trước đây chị đã chọn một thái độ, đã quyết cứ ở vậy, nên thật khó để báo cho bạn bè và gia đình một quyết định trái ngược hẳn, khi thời gian goá bụa chưa lâu. Và bà Amélie sẽ nói gì? Chắc chắn bà sẽ trách. Nhưng nên chăng ta chỉ sống vì người khác? Mình sẽ tổ chức đám cưới thật đơn giản, không ầm ĩ, hạn chế ở những nghi thức không thể thiếu được. Chị tưởng tượng ra cái áo sẽ mặc hôm đó, áo màu xám, cổ trắng cao và thêm cái thắt lưng cũng màu trắng thật hài hoà.
_____________________
(1) tưởng nhớ vợ, tưởng nhớ bạn
(2) houx
(3) bruyère
(4) primevère
(5) iris
(6) muguet
(7) Sainte- Beuve, nhà văn, nhà phê bình văn học ( 1804-1896 )
(8) Baudelaire, nhà thơ Pháp ( 1821-1867 )
(9) Invalides, điện Invalides, công trình nổi tiếng ở Paris, xây dựng từ thế kỷ XVII. Mục đích ban đầu của Invaldes là bệnh viện dành cho các thương binh và cựu chiến binh của quân đội hoàng gia. Ngày nay, Invalides tiếp tục duy trì một phần nhỏ cho chức năng dưỡng đường quân y, phần lớn dành cho bảo tàng vũ khí và lăng quân đội. Vào năm 1989, nhân dịp kỷ niệm 100 năm Cách mạng Pháp, mái vòm được trang trí lại lần thứ năm. 550 000 lá vàng, tức khoảng 10 kg được sử dụng cho công việc này.
(10) bleuet
(11) au Bois, tức là Bois de Boulogne, rộng đến 846 ha, ở phía Tây thủ đô Paris, địa điểm du ngoạn, vui chơi, giải trí.
THÂN TRỌNG SƠN
dịch và giới thiệu
( từ nguyên bản tiếng Pháp, Fleurs de saison
http://www.rulit.me/books/nouvelles-read-339373-14.html )
lundi 28 août 2017
NGƯỜI XA LẠ TRỞ VỀ
Truyện ngắn
Bắc Đảo
北岛 ( Bei Dao )
1949 -
Bắc Đảo, tên thật là Triệu Chấn Khai ( 赵振开 ), sinh năm 1949, quê quán Chiết Giang, nhưng lớn lên ở Bắc Kinh.
Năm 1966, khi Cách mạng văn hoá bùng nổ, Bắc Đảo 17 tuổi, đang học trung học. Lúc đó, thật ra ông cũng không thích không khí nhà trường với nhiều ràng buộc khắt khe , nên khi trường đóng cửa ông thấy thoải mái và, như nhiều thanh niên khác, ông tham gia hồng vệ binh. Ngoài việc tịch thu sách vở tại các gia đình, Bắc Đảo cũng đã từng tổ chức việc lấy sách ở các thư viện lúc này đều bị đóng cửa, những sách lịch sử, chính trị, triết học, liên quan đến cách mạng. Năm 1969, ông được đưa về nông thôn hoạt động và ông tận mắt chứng kiến cảnh sống nghèo nàn, lạc hậu ở đây, hoàn toàn khác với những tuyên truyền đã từng nghe. Từ đó, nhiệt tình cách mạng giảm sút, nhận thức chính trị của ông thay đổi hẳn. Ông bắt đầu học hỏi, đọc nhiều và bắt đầu viết, kể cả trong thời gian ông đi làm công nhân xây dựng. Ông đọc bất cứ thứ gì có được, thi ca cổ điển, tác phẩm lãng mạn phương Tây, chủ yếu là bản dịch. Loại sách lấy được ở các thư viện chính là " sách bìa vàng ", xuất bản trước thời cách mạng văn hoá, phổ biến hạn chế trong số cán bộ cao cấp. Lúc này Bắc Đảo và các bạn thích thú khám phá văn học phương Tây với tiểu thuyết của Kafka, với " Buồn nôn " của Jean-Paul Sartre, với " Bắt trẻ đồng xanh " của Salinger. Cùng nhóm bạn, ông tổ chức sinh hoạt văn chương, gặp gỡ hai tuần một lần để thảo luận, trao đổi các bài viết.
Tháng 4 năm 1976, lúc này Bắc Đảo vẫn đang là công nhân, nhiều cuộc biểu tình lớn diễn ra tại quảng trường Thiên An Môn, thường được gọi là " tứ ngũ sự kiện "
( 四五事件 ), biểu tình tưởng niệm Chu Ân Lai, mới qua đời ngày 8/1 trước đó, gắn với những hoạt động chống đối chế độ. Bên cạnh những vòng hoa do những người biểu tình mang đến có những bài thơ, và Bắc Đảo được biết đến với bài " Trả lời"
( 回答, Hồi đáp ), xuất hiện trong dịp này.
" ... Này thế giới, nói cho mà biết nhé,
tôi không tin !
dù cho dưới chân người có một ngàn tên thách đấu,
thì hãy tính tôi là kẻ thứ một ngàn lẻ một.
tôi không tin bầu trời màu xanh,
tôi không tin tiếng rền của sấm,
tôi không tin giấc mơ là ảo tưởng,
tôi không tin cái chết không báo thù.
.... "
Ngay sau cái chết của Mao Trạch Đông, có vẻ như bắt đầu những thay đổi chính trị lớn. Một số những người " xét lại", " hữu khuynh" bị bắt giữ được trả tự do, " Bức tường dân chủ " , một bức tường gạch dài gần hai trăm mét, được dựng gần bến xe buýt tại Tây Đơn, Bắc Kinh. Ban đầu, người dân đến đây dán lên tường những bài viết bày tỏ những oan khiên, uất ức của họ trong thời Cách mạng văn hoá. Sau đó là những hình thức diễn đạt khác, những áp phích lớn, đăng tải tin tức và ý kiến.
Đúng vào thời điểm này, cùng với bạn là nhà thơ Mang Khắc ( 芒克, Mangke ), Bắc Đảo thành lập tạp chí "Ngày Nay" ( 今天, Kim Thiên ) với bài xã luận hùng hồn:
" Lịch sử đã cho chúng ta cơ hội được bày tỏ, mà không phải chịu những hình phạt khủng khiếp, những bài ca mà chúng ta đã giấu kín trong lòng từ mười năm nay... Thế hệ chúng ta sẽ có thể xây dựng được định nghĩa của mỗi đời sống cá nhân, và khắc đậm nhận thức của chúng ta về khái niệm tự do..."
Số báo ra mắt ( có đăng bài thơ Trả lời và chữ ký của tác giả bên cạnh ), gồm 60 trang, chiếm diện tích lớn trên bức tường. Tạp chí Ngày Nay xuất bản được hai năm thì bị cấm nhưng cũng đã thu hút một số lớn những người hâm mộ văn chương, nhất là trong giới sinh viên, thanh niên. Sau khi báo bị cấm xuất bản, phần lớn các tác phẩm thi ca từng in trên báo được đăng lại trên các tạp chí chính thức, nhiều nhất là thơ của Bắc Đảo, và hai người bạn Mang Khắc và Cố Thành ( Gu Cheng 顾城 ), những người khởi xướng phong trào " mông lông thi " ( 朦胧诗 ) với nội dung và hình thức diễn đạt mới lạ. Về sau, cả ba đều trở thành những nhà thơ nổi tiếng. Bắc Đảo xác định vai trò của nhà thơ:
" Các nhà thơ không nên thổi phồng vai trò của mình, nhưng cũng không thể xem thường chính mình. Nhà thơ thực hiện một công việc sáng tạo khó khăn nhưng đầy ý nghĩa, để có thể chạm tay đến tất cả những điều tốt đẹp nhất trong trái tim con người. Có lẽ tất cả những gì mà nhà thơ cần để giải quyết những khó khăn đó, là thời gian. Lịch sử sẽ phán xét."
Sau khoảng mười năm lao động như một công nhân, Bắc Đảo trở thành biên tập viên về văn học cho nhiều tạp chí văn nghệ ( 新观察, Tân quan sát ), là hội viên Hội nhà văn Trung-quốc vào năm 1985; một năm sau, ông được tặng giải văn học Ngũ Tứ của Đại học Bắc- kinh.
Năm 1985 được phép xuất ngoại, lưu trú tại Anh và Hoa-kỳ. Năm 1987-1988, làm trợ giáo về ngôn ngữ tại Đại học Durham, Anh quốc. Đến tháng Năm 1988 được bộ Văn hóa Pháp mời tới thăm nước Pháp cùng với một số nhà văn Trung-hoa khác. Cũng năm này, ông được Đại học Iowa, Hoa-kỳ mời.
Tháng 6 / 1989, vụ thảm sát tại quảng trường Thiên An Môn xảy ra. Trước đó, Bắc Đảo đã phổ biến một bức thư ngỏ gởi nhà cầm quyền đòi hỏi trả tự do cho những tù nhân chính trị, trong đó có Nguỵ Kinh Sinh ( 魏京生, Wei Jingsheng ), nhà hoạt động dân chủ, bất đồng chính kiến, đã lên tiếng đòi hỏi thực hiện " hiện đại hoá thứ năm ", tức là quyền tự do cá nhân ( thêm vào bốn hiện đại hoá của Đặng Tiểu Bình ). Ba mươi ba người hưởng ứng ký tên, trong đó có một số nhân vật trí thức nổi tiếng, tạo nên một phong trào chống đối mạnh mẽ.
Nhiều bài thơ của Bắc Đảo được phổ biến trong dịp này, bày tỏ thái độ phản đối những biện pháp quá khích của cách mạng văn hoá, mạnh mẽ nhất là bài " Tuyên cáo " ( 宣告 ) :
Tuyên cáo
( Tặng Yu Luoke )
Có lẽ giờ cuối cùng đã điểm
Tôi chẳng để lại di chúc nào
Chỉ có cây bút, để tặng mẹ
Tôi không phải là anh hùng
Trong thời đại không anh hùng
Tôi chỉ muốn làm người.
Đường chân trời tĩnh lặng
Phân cách người sống kẻ chết
Tôi chỉ có thể chọn bầu trời
Quyết không quỳ gối xuống đất
Để bọn đao phủ trông cao lớn hơn
Che chắn ngọn gió tự do.
Từ những lỗ đạn hình ngôi sao
Chảy ra bình minh đỏ như máu.
Người được đề tặng bài thơ này là Yu Luoke tức 遇 羅 克 , Ngộ La Khắc, một nạn nhân của cách mạng văn hoá. Tuy là học sinh xuất sắc, hai năm liên tiếp anh đều bị loại khỏi danh sách trúng tuyển trường đại học, chỉ vì bố mẹ thuộc tầng lớp " tư sản ", dù là cả hai đều đã bị " trừng phạt " trước đó, từ lãnh đạo xí nghiệp trở thành công nhân bình thường " chịu sự giám sát của quần chúng ". Ngộ La Khắc phải xin làm thợ học việc ở một nhà máy nhỏ. Anh viết nhiều bài lên án mạnh mẽ " chủ nghĩa lý lịch ", gom lại thành tác phẩm " Về nguồn gốc gia đình ", lan truyền rộng rãi đến mức tác giả bị truy lùng, bắt giữ, và kết án tử hình. Anh bị hành hình ngày 5/3/1970, khi mới 27 tuổi. Nhiều năm sau, cuộc vận động đòi hỏi phục hồi danh dự cho anh vẫn tiếp tục mạnh mẽ và đến năm 1979 anh được toà án Bắc Kinh tuyên bố vô tội.
Thời điểm tháng 6/1989 này, Bắc Đảo đang ở Đức nhưng ông vẫn bị cáo buộc đã xúi giục phong trào bạo loạn của thanh niên sinh viên. Ông biết sẽ bị bắt nếu trở về nên đành chấp nhận cuộc sống lưu vong. Từ lúc này cho đến mùa thu năm 1995, khi ông gặp lại vợ con, Bắc Đảo đã chuyển chỗ ở mười lăm lần, qua bảy quốc gia khác nhau, Đức, Na Uy, Thuỵ Điển, Đan Mạch, Hoà Lan, Pháp, Hoa Kỳ. Ông gọi mình là "con nhím lưu vong " ( 逃亡的刺猬, đào vong đích thứ vị ), như trong bài thơ tặng con gái Điền Điền ( 田田 ):
Bức tranh
( Cho sinh nhật thứ năm của Điền Điền )
Buổi sáng đến trong chiếc áo dài ngắn tay
Táo rụng đầy khắp mặt đất
Con gái tôi đang vẽ bức tranh
Bầu trời năm tuổi rộng lớn cỡ nào
Tên con có hai cánh cửa sổ (*)
Một cánh mở ra phía mặt trời không có kim đồng hồ
Một, mở về phía cha của con,
Người đã trở thành con nhím lưu vong
Mang theo mình vài con chữ khó hiểu
Trái táo đỏ rực nhất
Đã chạy khỏi bức tranh của con
Bầu trời năm tuổi lớn rộng ra sao.
(*) Tác giả chơi chữ, dựa vào tự dạng tên con gái 田田.
Điều đáng lưu ý là các bạn thơ của ông ở tạp chí Kim Thiên, sau năm 1989, lần lượt cũng chấp nhận lưu vong cả: Cố Thành ( 顾城, Gu Cheng ), Đa Đa (多多 , Duo Duo ), và Dương Luyện ( 杨炼, Yang Lian ). Nhiều nhà văn Trung hoa lưu vong đã nhóm họp tại Oslo ( Na Uy ) vào mùa xuân 1990 và quyết định xuất bản lại tờ Kim Thiên. Văn phòng biên tập chuyển từ Oslo đến Stockholm ( Thuỵ Điển ) rồi tới New York. Ngoài việc phổ biến tác phẩm của các nhà thơ Trung hoa, tạp chí còn dịch và giới thiệu nhiều nhà thơ phương Tây cận đại và hiện đại ( Octavio Paz, Paul Celan, Tomas Transtromer, Mark Strandu... ).
Năm 1990, từ Na Uy, Bắc Đảo qua Thuỵ Điển, trở thành hội viên danh dự của tổ chức Văn Bút ( PEN ) nước này. Sau đó, ông sang Đan Mạch làm trợ giáo về ngôn ngữ và văn chương Trung hoa tại Đại học Arrhus cho đến 1992. Chặng đường tiếp theo là Hoà Lan ( 1992-1993 ), ông được mời tới cư trú với tư cách là nhà văn tại Đại học Leiden, rồi Đại học Michigan, Hoa Kỳ ( 1993-1994 ). Tại Hoa Kỳ, Bắc Đảo từng dạy tại Đại học Alabama ( Tuscaloosa ), Đại học Notre Dame ( Indiana ) và Beloit College ( Wisconsin ). Ông là thành viên danh dự của Hàn Lâm Viện Nghệ thuật - Văn chương Hoa Kỳ. Trường Đại học Brown trao tặng ông bằng tiến sĩ danh dự.
Đến năm 2006, ông mới được chính thức trở về quê hương. Năm sau, Bắc Đảo chuyển sang sống tại Hong Kong cùng vợ là hoạ sĩ Thiệu Phi ( 邵飞 Shao Fei ) và con gái , Điền Điền ( 田田, Tiantian ), giảng dạy tại Trung tâm Nghiên cứu Đông Á thuộc Đại học Hong Kong.
Bắc Đảo đã được tặng nhiều giải thưởng giá trị:
Giải thưởng Tucholsky của Văn Bút ( PEN ) Thuỵ Điển (1990). Giải thưởng được đặt tên theo nhà văn Kurt Tucholsky, người Đức, tỵ nạn tại Thuỵ Điển từ năm 1929, trao hàng năm cho các tác giả bị ngược đãi, đe doạ hoặc lưu đày.
Giải thưởng Thơ Quốc tế Argana, Casablanca ( 2002 ).
Giải thưởng Cành Hoa Vàng của Liên hoa Thơ Quốc tế Struga - Macedonia ( 2015 ). Giải thưởng trao hàng năm từ 1966, Bắc Đảo là người thứ 50, sau những tên tuổi lớn của thế giới: Wystan Hugh Auden, Eugenio Montale, Léopold Sédar Senghor, Rafael Alberti, Hans Magnus Enzensberger, Ted Hughes, Allen Ginsberg, Tomas Tranströmer, Ko Un..., và những người từng đạt giải Nobel như Joseph Brodsky, Eugenio Montale, Pablo Neruda and Seamus Heaney.
Giải thưởng Cikada của Thuỵ Điển ( 2015 ). Giải thưởng được sáng lập vào năm 2004 nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ nổi tiếng Thuỵ Điển Harry Martinson ( 1904 - 1978 , giải Nobel văn chương 1974 ), dành cho các nhà thơ Đông Á, với ý nghĩa " ghi nhận những đóng góp thông qua các vần thơ ca ngợi sự thiêng liêng của cuộc sống". Cùng đạt giải năm này với Bắc Đảo là nhà thơ Ý Nhi của Việt Nam. Từ năm 2004 đến nay đã có 10 tác giả được trao giải thưởng Cikada gồm: 3 nhà thơ Nhật Bản, 3 nhà thơ Hàn Quốc, 1 nhà thơ Trung Quốc, 1 nhà thơ Đài Loan, và 2 nhà thơ Việt Nam là Ý Nhi (2015) và Mai Văn Phấn (2017).
Nhiều năm Bắc Đảo được giới thiệu là ứng viên giải Nobel Văn chương, nhưng chưa được chọn.
Tác phẩm của ông đã được dịch sang 30 ngôn ngữ.
Bắc Đảo thường được nhắc tới như một nhà thơ. Tuy nhiên, ông còn viết truyện ngắn và tiểu luận.
Truyện " Người xa lạ trở về " giới thiệu dưới đây được dịch từ bản tiếng Pháp của Brigitte Duzan, nguyên bản tiếng Trung là 归来的陌生人 ( Quy lai đích mạch sinh nhân ), trích trong tập " Ba động " ( 波动 , Sóng ). Bắc Đảo bắt đầu viết những bài thơ đầu tiên từ năm 1970, những truyện ngắn in trong tập Ba động này là những trang văn xuôi đầu tiên của ông, khởi đầu từ 1974, đến năm 1979 hoàn thành, và hai năm sau mới xuất bản. " Ba động " kể về số phận những người thuộc thế hệ lạc lõng trong thời cách mạng văn hoá. Nội dung và hình thức của tác phẩm này đều rất mới mẻ so với thời đại, báo hiệu khuynh hướng cách tân trong sáng tạo nghệ thuật.
Ngoài tập Ba động, Bắc Đảo còn xuất bản nhiều tác phẩm khác, có thể kể:
Ngọn đèn xanh ( 青燈 , thanh đăng ), hồi ký.
Căn nhà xanh ( 藍房子 lam phòng tử ), hồi ký, bản Anh dịch Blue House.
Cánh cửa nửa đêm ( 午夜之門 ngọ dạ chi môn ), hồi ký, bản Anh dịch Midnight's Gate.
Hoa hồng của thời gian ( 時間的玫瑰, thời gian đích mai khôi ), tiểu luận về thơ.
I.
Cha trở về.
Ông đã trải qua trọn vẹn hai mươi năm ở trại cải tạo, từ Đông Bắc (1) đến Sơn Tây, rồi từ Sơn Tây đến Cam Túc, như một thuỷ thủ lênh đênh theo sóng nước biển, ông đã cố chống chọi vô vọng cảnh nổi trôi đó, thế rồi một con sóng nhỏ lại đưa ông dạt vào bến bãi đầu tiên.
Kết luận của mọi chuyện chỉ đơn giản ông là nạn nhân của một vụ án oan sai, giờ ông được phục hồi danh dự hoàn toàn. Hôm đó, các nhân vật quan trọng của giới kịch nghệ đã hạ cố đến căn nhà tầm thường của chúng tôi; khi họ thông báo bản án với chúng tôi, tôi suýt nhảy bổ lên. Từ lúc nào các người bỗng trở nên sáng suốt thế kia? Chẳng phải là chính các người, những nhà văn chương nghệ thuật, trước đây đã tuyên bố là ông ấy đã phạm tội ác với nhân dân đó sao? Cái nhìn của mẹ, vừa bình thản vừa đau đớn, đã ngăn tôi lại.
Sau đó, chúng tôi được dự vào cuộc đại diễn tập cho một ngày hội. Chúng tôi rời khỏi cái chuồng thỏ để dọn đến ở một căn nhà ba gian, một dinh thự; ghế dài, tủ sách, bàn làm việc, ghế xếp, mọi thứ hiện ra như trò ảo thuật ( tôi nửa đùa nửa thật nói với mẹ hẳn là phông màn bài trí của đoàn hát đây mà ); người thân và bạn bè không ngừng lượn lờ đến suốt ngày, ngay cả những người quen biết bao lâu nay không thấy đâu nay cũng đến chúc mừng chúng tôi... Cũng được đi, các vị cứ tung hô, cứ ca hát, nhưng những điều đó có liên quan gì đến tôi? Cha đã hồi sinh. Cách đây đúng hai mươi năm, đúng vào lúc một đứa bé gái bốn hay năm tuổi đang cần tình thương của cha mình thì cha nó chết... Mẹ, những người ở trường, những người có chủ ý đều nói với nó như thế, và, nếu chừng đó chưa đủ, các người còn muốn tôi ghét ông ta, nguyền rủa ông ta, và nếu có thể, các người còn đưa cho tôi cái roi để tôi quất vào người ông ta không chút thương hại. Bây giờ đây, mọi thứ được đền bù, các người thay đổi hẳn, các người muốn tôi phải làm sao? muốn tôi khóc? hay muốn tôi cười?
Hôm qua, lúc ăn tối, mẹ quan tâm đến tôi gấp đôi ngày thường, luôn tay gắp thức ăn vào chén tôi, và, lúc ăn xong, mẹ rút trong hộc ra một bức điện tín đưa cho tôi, vẻ mặt không biểu lộ cảm xúc.
" Của cha phải không?"
" Chiều mai ông ấy đến, mười sáu giờ năm mươi."
Tôi cầm lấy bức điện tín, nhìn thẳng vào mắt mẹ.
" Lan Lan, con đi đón ông ấy nhé!" mẹ nói, tránh tia nhìn của tôi.
" Chiều mai con có giờ dạy."
" Nhờ người nào thay cho."
Tôi quay gót bước về phía phòng ngủ: " Con không đi."
" Lan Lan ", mẹ cao giọng nói, " dù sao ông ấy cũng là cha con!"
" Cha?" Tôi vội quay lại, lẩm bẩm trong đầu: cái từ đó và ý nghĩa của nó đang hành hạ mình, tôi cảm thấy tim đập thình thịch, hình như những vết khâu của vết thương cũ đang bung ra.
Tôi gấp cuốn vở tập làm văn trước mặt lại, lớp năm, Trương Tiểu Hà. Cô bé bạo dạn này, có thói quen hay lắc cái đầu, thật giống tôi lúc tôi tuổi nó, ôi, những năm tháng ấu thơ! Điểm khởi đầu cuộc đời mỗi chúng ta, là những cuốn vở bìa màu xanh nhạt, là những chữ viết và những dấu chấm câu bôi xoá lem luốc và, chính xác hơn, là tình cảm từng ít nhiều bị đánh lừa: những vòng hào quang thầy cô vẽ cho ở trường bao quanh cuộc sống chúng ta, những cái nào chẳng biến thành cuộn khói tròn hay vòng xích sắt?
Bóng tối tràn qua cánh cửa sổ kiểu xưa, che mờ phần chiếu sáng trên mặt kính bàn làm việc. Phòng giáo viên chìm ngập trong thứ ánh sáng mờ đục, yên ả. Tôi thở dài, sắp xếp sách vở, khoá cửa, đi băng qua sân trường tĩnh lặng, và bước theo hướng về nhà.
Ánh sáng từ những khung cửa sổ của căn hộ chung cư loé lên như những màn hình máy vô tuyến truyền hình, còn những cửa sổ không có đèn sáng thì hiện lên những chiếc bóng không rõ hình thù. Lúc nào cũng có những cửa sổ sáng đèn và những cửa tối thui, nhưng ba cánh ở tầng bảy thì luôn luôn giữ mô hình cố định: một sáng và hai tối. Tôi đi tới đi lui một lúc trên khoảng đất bỏ không vương đầy vữa thạch cao và những thanh gỗ giàn giáo. Một tấm biển bằng gỗ rời, treo lệch, ghi mấy chữ: Chú ý, nguy hiểm!
Trong tất cả ngôn ngữ trên thế giới, điều lạ lùng là, để diễn tả cùng một khái niệm chính xác, người ta đều dùng một từ phát âm kiểu giống nhau: ba. Tất cả những người cha, dù màu da, tính tình và bản chất khác nhau, vẫn có được niềm khoan khoái như nhau khi nghe được từ đó, vậy mà tôi, tôi không thể thốt lên được. Còn ông ấy, tôi biết gì về ông? Tôi chỉ còn vài tấm hình cũ sót lại, mang dấu vết một giấc mơ trẻ con: chiếc khăn quấn ngang đầu, kiểu như khăn trùm Á rập, ông ấy ngồi trên lưng con voi có phủ trên lưng một tấm thảm bằng dạ tuyệt đẹp với những tua vàng thòng xuống đất... Cũng có vài vở kịch nổi tiếng vào thời của ông ấy, và một bản luận văn khá dày về lý thuyết kịch; những sách này, tôi tình cờ tìm thấy trong một trung tâm lưu giữ phế phẩm; còn thứ khác? vâng, có những bức thư thông báo, cái nào cũng giống nhau, toàn buồn tẻ cả, và đều gởi đến đều đặn như đồng hồ: trong những phong bì giấy cứng viền màu đỏ, chúng trông chỉ giống như những thư cáo phó, và nhìn chúng là tôi thấy ngạt thở. Tôi không bao giờ hồi đáp, và sau đó, đem đốt hết, chẳng thèm để mắt tới. Duy chỉ một lần có một phong bì trắng tinh, trên đó in hình một con vịt con dễ thương, nhưng khi mở ra, tôi đã thất vọng và nổi giận nguyền rủa mọi con vịt con xấu xí, lại còn kể ra những thói xấu của chúng: tham lam, hèn nhát, cẩu thả... Tất cả chỉ vì bức thư đó chẳng đem đến cho tôi hạnh phúc, mà tôi có quyền chờ đợi thứ hạnh phúc nào kia chứ?
Giờ này đây, thang máy đã ngừng, tôi chỉ có việc bước lên cầu thang, từng bậc một; đến cửa căn hộ, tôi dừng lại, căng tai, nín thở; nghe từ bên trong nhà tiếng rì rầm của TV và lời thoại ngốc nghếch của cuốn phim cũ; ơn Trời, xin cho tôi đủ can đảm!
Tôi vừa mở cửa đã nghe giọng em trai tôi nói lớn:" Chị về rồi đấy! " nó nhảy chồm về phía tôi, như anh lính xung phong, giúp tôi cởi áo khoác. Em tôi đã hai mươi hai tuổi rồi, nhưng lúc nào cũng quấn quýt lấy tôi, có lẽ chỉ vì, như lời mẹ nói, trong bao nhiêu năm tôi đã chia sẻ gánh nặng của tình mẫu tử.
Hành lang tối thui, chút ánh sáng từ nhà bếp hắt ra chẻ bóng tối làm hai. Ông ấy, đứng ngay giữa chỗ ra vào cửa đối diện, nơi nửa kia của bóng tối, mẹ đứng bên cạnh, và, sau lưng hai người, những tia sáng của TV loé lên từng đợt.
Một sự yên lặng đến rợn người.
Cuối cùng, ông ấy vượt qua dòng sông ánh sáng, ánh sáng của ngọn đèn, một thứ ánh sáng trắng bi thảm, lướt vội qua mặt và cổ ông làm lộ rõ những vết nhăn và những cái sẹo. Tôi vẫn đứng chết dí một chỗ, ông già nhỏ bé người quắt lại đó kia là ông ấy sao? Cha tôi. Tôi thấy yếu lả người, phải đứng tựa vào cánh cửa.
Ông ấy do dự một lát, rồi chìa tay ra, và bàn tay nhỏ bé của tôi lọt thỏm trong đôi bàn tay cứng đờ của ông, với những khớp bị bệnh viêm làm cho biến dạng, những bàn tay chẳng tương xứng chút nào với toàn bộ cơ thể.
" Lan Lan ", ông nói khẽ, giọng hơi run.
Im lặng.
" Lan Lan ", ông lặp lại, giọng dứt khoát hơn, chừng như ông đang sốt ruột chờ đợi điều gì đó.
Nhưng tôi biết nói gì đây?
" Giờ con mới về, trễ vậy, con ăn rồi phải không?", mẹ nói.
" Vâng", tôi nói, giọng yếu đuối.
" Sao con đứng mãi ở đó vậy? đi vào đi con." mẹ nói.
Ông ấy cầm lấy tay tôi, tôi ngoan ngoãn theo vào, mẹ bật đèn, tắt TV và chúng tôi đến ngồi trên chiếc ghế dài, ông ấy vẫn nắm chặt lấy tay tôi, nhìn tôi chăm chú, vẻ ngây dại. Tôi tránh tia nhìn của ông, mắt đổ vào con búp bê bằng nhựa dẻo thổi phồng được đặt trên thành cửa sổ. Một sự im lặng đến khó chịu.
" Lan Lan ", ông ấy gọi lần nữa.
Thực tình tôi sợ là con búp bê lạ lẫm kia nổ bùng, làm những mảnh vỡ nhiều màu bay tung toé khắp phòng.
" Con ăn rồi chứ? "
Tôi mạnh mẽ gật đầu.
" Bên ngoài lạnh lắm không?"
" Không." Mọi thứ đều bình thường, con búp bê không nổ. Có thể nó sẽ bất chợt, như một quả bóng khinh khí, thoát ra cửa sổ vụt bay lên trên những ngôi nhà tràn đầy tiếng động, ánh sáng và hơi ấm, rồi lướt lên nhập với trăng sao.
" Lan Lan ", giọng ông vừa thương cảm vừa van nài.
Nhưng bỗng nhiên, cái không khí đầy tin cậy vừa mới hình thành đó tan loãng ngay. Tôi chợt hoảng sợ và cảm thấy máu dồn lên làm váng vất đầu óc. Tôi giật mạnh bàn tay ra, chạy ra cửa, rẽ về phòng và vùi đầu vào giường, mong được khóc.
Có tiếng ai đẩy nhẹ cửa, mẹ đó, bà đến ngồi cạnh giường, trong tối, vuốt tóc, gáy và vai tôi. Không hiểu tại sao, như là sợ đến tê cóng, tôi run cả người.
" Đừng khóc con, Lan Lan."
Khóc? Mẹ ơi, nếu con khóc được, nước mắt của con chắc hẳn sẽ màu đỏ, sẽ là máu đó!
Mẹ vỗ nhẹ vai tôi: " Ngủ một tí đi con, Lan Lan, mọi chuyện sẽ qua thôi."
Mẹ bước ra.
Mọi chuyện sẽ qua. Ôi, sao nghe bình thản quá, có thể nào xoá đi hai mươi năm ấy bằng cách lấy bút gạch bỏ đi? Con người đâu phải là lau sậy, cũng không phải là những con đỉa, mà là những con sò ngọc trai, những hạt cát kỷ niệm, cùng với ngày tháng, trở thành một phần gắn bó với bản thân mỗi người, chuyển hoá thành những giọt nước mắt không bao giờ khô cạn.
.... Trong tầng hầm nhà, những con muỗi va vào những bóng đèn chói mắt, một ông lão mình đầy thương tích bị trói vào con ngựa gỗ, rên rỉ, đầu cúi xuống; thu mình trong một góc, tôi khóc nức nở, trên hai đầu gối bị những mảnh kính cứa vào máu đã khô, dính với đất...
Mười hai năm đã qua, một đêm mẹ không ngủ được, mẹ chợt ôm tôi vào lòng và nói ba con là người tốt, người ta tố cáo vô căn cứ; những lời lẽ mang đầy hy vọng này sưởi ấm cho trái tim đứa trẻ lần đầu tiên tự nhủ rằng thế là nó sắp được thụ hưởng những quyền lợi như bao đứa trẻ khác. Thế là tôi chạy đến trường, chạy đến hội các người ở nhà hát, chạy đến uỷ ban khu phố, chạy đến tổng hành dinh hồng vệ binh, đến mọi nơi để nói cho tất cả mọi người rằng cha tôi không phải là tội phạm. Tai hoạ không thể ngờ tới được, đám đông giận dữ lôi tôi về nhà mở cuộc điều tra, mẹ không biết chuyện gì đã xảy ra, trước mặt con gái, mẹ đổi ý kiến về tất cả những gì đã nói, tất cả lỗi lầm đổ trên đôi vai mảnh mai của con. Mẹ hối hận, cầu xin trời và nói muốn chết đi, nhưng có ích gì? Tôi bị dẫn đi ngoài đường, buộc làm lao động cực nhọc, quỳ gối trên mảnh chai.
... Ông lão ngước cái mặt đầy máu khiến không nhận rõ đường nét nào: " Nước, nước, cho tôi xin chút nước!" Tôi sợ hãi nhìn ông, quên mất cái đau của mình, thu người vô trong góc. Tảng sáng, ông lão tắt thở, tôi kinh hãi ngất đi. Trên đầu gối, máu đã khô....
II.
Bầu trời rất xanh, một màu xanh rực rỡ, tia sáng đầy đặn phản chiếu trên mặt đất. Cổ thắt nơ con bướm, tay cầm chiếc giỏ tre nhỏ trống không, tôi đứng trong đám cỏ dày cao tới người, thình lình trong bụi cây trước mặt hiện ra một con voi phủ trên lưng một tấm thảm dạ có tua thòng xuống tận mặt đất, cha ngồi trên lưng voi, dáng oai nghiêm, đầu đội chiếc khăn vải trắng. Con voi đong đưa cái vòi, nó ré lên rồi lấy cái vòi cuốn lấy người tôi và nhấc lên bỏ trước mặt cha rất an toàn; hai cha con tiếp tục đi tới. Chúng tôi đi qua một rừng cọ có ánh nắng chiếu xuyên qua lá cây, đi qua những con khe có tiếng suối nước róc rách. Nhưng rồi, khi đột ngột quay đầu lui, tôi kinh hãi vô cùng: người ngồi sau lưng tôi bây giờ là ông lão với khuôn mặt dị dạng đầy máu, ông mặc bộ đồng phục sọc đen trắng của tù nhân, phía trước có ghi ba chữ: " trại cải tạo ", ông lão rên rỉ giọng khàn khàn: " Nước, nước, cho tôi xin ít nước!"
.....
Tôi giật mình tỉnh giấc.
Năm giờ sáng, bên ngoài, vẫn còn đêm đen. Tôi bất giác kéo hộc bàn ngủ, lấy ra gói thuốc và châm một điếu; sau khi làm vài hơi khoẻ khoắn, tôi cảm thấy bớt căng thẳng ngay. Khói thuốc trắng toả ra trong bóng tối, len qua khung cửa sổ để mở. Đầu điếu thuốc loé đỏ một chút để tắt lại, tôi muốn đem hết nghị lực để rọi sáng tận mọi ngóc ngách sâu thẳm nhất của tâm hồn, nhưng tôi chẳng cảm thấy gì ngoài sự thinh lặng tuyệt đối, sự dễ chịu do điếu thuốc mang lại và ấn tượng trống trải còn sót lại sau cơn ác mộng.
Tôi bật ngọn đèn đầu giường, thay quần áo rồi nhẹ nhàng mở cửa. Có ánh sáng trong nhà bếp, nghe như có tiếng sột soạt; có ai thức dậy sớm thế này? ai?
Dưới ánh đèn, ông ấy đang ngồi chồm hổm, mặc cái áo gi lê vải bông không tay, quay lưng về phía tôi, hết sức chăm chú nhào trộn cái gì đó, bên cạnh ông, bày đầy những lá rau cải, những đầu cá, và đủ thứ dơ bẩn đại loại như thế.
Tôi húng hắng ho.
Ông bật dậy và, quay về phía tôi, mặt tái nhợt, nhìn tôi vẻ hoảng hốt.
Bóng đèn huỳnh quang kêu rì rầm.
Ông chậm rãi đứng dậy, tay để sau lưng, cười gượng gạo. " Lan Lan, ba làm con thức giấc."
" Ba đang làm gì đó?"
" Ờ, không, không có gì." Ông bối rối chùi mãi bàn tay còn rảnh vào quần.
Tôi đưa tay ra: " Đưa con xem."
Ông do dự một lát, rồi đưa tôi vật đó: một gói thuốc lá như bình thường, chẳng có gì đặc biệt ngoại trừ một vết nơi góc. Tôi ngẩng đầu nhìn ông, không hiểu.
" Ồ, Lan Lan!" Những giọt mồ hôi đọng trên đầu ông đã hói một nửa, " Hôm qua, ba đã ném gói thuốc này, nhưng vô tình không để ý xem thử ba có ghi gì lên trên, lỡ có thể gây phiền toái nếu đội trưởng biết được."
" Đội trưởng?" Tôi thấy khó hiểu hơn. " Đội trưởng là ai vậy?"
" Người ta gọi đội trưởng những người phụ trách bọn tội nhân như ba." Ông rút khăn tay trong túi ra lau mồ hôi, " tất nhiên ba biết bây giờ ba ở ngoài vòng rồi, nhưng tốt hơn là tránh không để họ thấy..."
Đầu tôi bắt đầu lùng bùng. " Vậy đó! Ba thôi đi! "
Ông ngậm miệng, hai hàm nghiến lại như thử vừa nuốt phải lưỡi, tôi không thể tưởng tượng cuộc nói chuyện giữa hai cha con bắt đầu kiểu như thế này, và lần đầu tiên tôi nhìn kỹ cha. Chỉ mới từ sáng đến tối qua, hình như ông ấy đã già thêm. Trên đôi má trũng có thể thấy những sợi lông thật ngắn của một bộ râu màu xám nhạt cạo không kỹ, những nếp nhăn như vạch quanh đôi mắt lờ đờ, và ở mép tai bên phải, có một cục u gớm ghiếc; không thể tránh khỏi tình cảm thương hại tự nhiên.
" Cuộc sống ở đó cực khổ lắm phải không?"
" Cũng được, rồi quen dần thôi."
Quen dần! Tôi chợt rùng mình. Đứng nghiêm. Lưới sắt. Súng máy. Giẫm chân tại chỗ. Chấn chỉnh đội ngũ. Chết chóc. Tôi lật qua lật lại gói thuốc giữa những ngón tay rồi ném vào thùng rác. " Ba ngủ lại một chút đi, hãy còn sớm."
" Ba ngủ thế đủ rồi, đã năm giờ rưỡi, giờ kèn báo thức."
Ông quay gót, dọn dẹp rác rưởi vương vãi dưới đất.
Tôi trở về phòng, áp má vào bức tường lạnh băng, thật không thể chịu nổi... Trong quá khứ có người nào tính tình cứng rắn như thế không? Ôi, bàn tay của thời gian! Với sự lạnh lùng độc ác của nhà ngươi, ngươi đã nhào nặn con người như đất sét, và trước khi một con bé có đủ thời gian khắc ghi trong ký ức những đường nét thực sự của cha nó, thì ngươi đã huỷ hoại hình ảnh đó rồi... Cuối cùng tôi lấy lại bình tĩnh, nhét các thứ vào túi xách và khoác áo choàng vào.
Tôi đứng lại khi đi ngang nhà bếp, ông ấy đứng ở bồn rửa chén bát, đang lấy cái bàn chải nhỏ rửa tay, bọt xà phòng xanh nhỏ xuống nền, như nhựa cây.
" Con đi làm đây."
" Sớm vậy sao?" Ông chú tâm vào việc đến độ không thèm ngẩng đầu lên.
" Con quen rồi."
Tôi không bật đèn, bước đi trong tối, lần từng bậc cấp cầu thang.
III.
Mấy ngày tiếp theo, hôm nào tôi cũng về trễ, khi mẹ có hỏi gì, tôi đều viện cớ có việc ở trường. Về đến nhà, tôi lẻn ngay xuống bếp ăn vội chút gì còn sót lại, rồi rút về trú trong cái tổ riêng biệt, tôi ít khi đụng phải ông ấy, mà lỡ có gặp, chúng tôi cũng chỉ trao đổi vài câu. Tuy nhiên trong sự im lặng của ông ấy như có chút gì ân hận, hầu như có thể đọc được những lời bào chữa cho chuyện xảy ra sáng hôm ấy, rất sớm, lời bào chữa cho việc trở về như thế này, lời bào chữa cho tuổi thơ thiếu niềm vui của tôi, và thậm chí, bào chữa cho hết thảy hai mươi năm đã qua.
Em trai tôi, như một gián điệp, thường xuyên tường thuật cho tôi biết ông ấy đã làm gì, theo kiểu:" Ông ấy trồng trong chậu những cây héo queo ngộ lắm", " Suốt buổi chiều ông ấy cứ ngắm kỹ mấy con cá trong bể", " Ông ấy lại đốt một tờ giấy nữa"...
Tôi nghe mà không trả lời, với tôi, đấy chỉ là chuyện kế tiếp việc xảy ra sáng hôm đó, chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Điều lạ lùng nhất trong câu chuyện là em tôi: nó kể lại những thứ đó bằng một giọng bình thản, không biểu lộ chút cảm xúc, cũng không cho thấy cảm tưởng là chuyện khiến nó đau lòng. Nhưng cũng không có gì lạ, khi em tôi sinh ra thì ông ấy đã đi xa từ lâu, nó được bà nội nuôi dưỡng, hơn nữa, mẹ và chính tôi đã thay nhau lần lượt xoè đôi cánh bảo bọc trên bờ cửa sổ, trong ngôi nhà của bà, nó đâu có thấy một khung trời đe doạ nào.
Một tối, khi tôi đang nằm dài trên giường hút thuốc, có ai gõ cửa, tôi vội vàng nhét điếu thuốc vào trong cái hộp kim loại nhỏ, mẹ bước vào.
" Con hút thuốc hả, Lan Lan?"
Làm như không có chuyện gì, tôi giả bộ đang đọc cuốn truyện đặt trên gối.
" Nghe toàn mùi thuốc lá, con nên mở cửa sổ ra."
Cám ơn Trời, mẹ không nói gì nữa, nhưng tôi nhận thấy ngay là mẹ có gì không ổn. Mẹ ngồi nơi bàn làm việc của tôi, vô tình cầm lấy con lạc đà bằng sứ tôi dùng để cắm bút chì, quan sát kỹ một lát, rồi đặt lại chỗ cũ, trong ngôn ngữ ngoại giao gọi là gì nhỉ? Cuộc hội đàm, đúng rồi, cuộc hội đàm chính thức...
" Lan Lan, con đâu còn là trẻ con nữa." Mẹ cân nhắc từng chữ.
Mới đầu, tôi lắng tai nghe chăm chú và lễ độ.
" Mẹ biết là, trong thâm tâm, con giận mẹ, con giận ông ấy, con giận mọi người, vì tất cả những gì con đã chịu đựng... Nhưng mà Lan Lan, đâu phải chỉ mình con đau khổ."
" Mẹ."
" Con sắp kết hôn với Kiến Bình, con sẽ có con, có lẽ lúc ấy con sẽ hiểu thế nào là nỗi đau của người mẹ..."
" Chúng con sẽ không có con nếu không bảo đảm được tương lai của chúng."
" Con trách ba mẹ rồi đó, Lan Lan", mẹ buồn rầu nói.
" Không, không phải vậy, con cám ơn mẹ, mẹ ơi, những năm tháng ấy, chẳng dễ dàng gì, cho mẹ..."
" Và con tưởng là dễ dàng đối với ông ấy?"
" Ông ấy?"
Tôi im lặng một lúc," Con không biết, và con không muốn biết, nhưng, với tư cách cá nhân, con tôn trọng những gì ông ấy đã chịu trong quá khứ."
" Và con không tôn trọng chuyện ông ấy ngày nay? Lan Lan, con nên hiểu ông ấy đã can đảm đến mức nào để tiếp tục sống!"
" Mẹ à, vấn đề không phải ở đó, mẹ nói vậy vì mẹ và ba đã sống chung bao nhiêu năm, nhưng còn con, con không muốn những trò đạo đức giả đó nữa..."
" Cái gì? " Mẹ nổi giận, nói lớn, " con không nghĩ là mỗi người phải cố hết sức để làm tròn nghĩa vụ và thực hiện bổn phận của mình sao?"
" Nghĩa vụ của mình? Bổn phận của mình?"
Tôi bật cười, nhưng đấy là tiếng cười sầu não, đúng hơn là tiếng khóc. " Những năm đó, người ta đã lải nhải với con chuyện ấy không biết bao nhiêu lần, nhưng con không còn muốn từ chối gì nữa cả, mẹ à."
" Và con được gì?"
" Sự thật."
" Một sự thật tàn nhẫn."
" Biết làm sao được?", tôi vừa nói vừa dang tay ra, " đời là thế mà."
" Con quá ích kỷ!" mẹ đập bàn la lớn.
Phẫn nộ, mẹ đứng dậy, nhìn tôi một lúc với vẻ giận dữ, khuôn mặt căng ra run lên, rồi đóng sập cửa lại bỏ đi ra.
Ích kỷ. Tôi thừa nhận, trong những năm đó, ích kỷ đối với tôi là cái gì đó theo bản năng, là một phương thức tự vệ, ngoài nó ra, tôi biết trông cậy vào gì nữa. Có lẽ đáng ra tôi không nên làm cho mẹ nổi giận, tôi nên tỏ ra là một bé gái ngoan, thương ba, thương mẹ, thương em, yêu cuộc đời, và yêu chính mình.
IV.
Ở trường, lúc giờ chơi, tôi xuống phòng tiếp khách gọi điện thoại cho Kiến Bình.
" Allo, anh Kiến Bình, tối nay anh phải đến rồi."
" Có chuyện gì hả, Lan Lan? " máy bị ồn nên anh ta phải la lớn; bỗng nhiên giọng anh ấy có vẻ khàn khàn, mỏi mệt.
" Ông ấy trở về."
" Ai? ba em à?"
" Anh lanh lẹ lắm, đến giúp em một tay. Em đang bí rồi."
Anh ta bật cười.
" A! Vậy mà anh cười được, rồi anh sẽ biết!" Tôi nắm tay đấm vào ống nghe.
Đúng như thế, Kiên Bình có một thứ khả năng bẩm sinh là luôn luôn dàn xếp được mọi chuyện. Năm nọ, đội trưởng đội sản xuất tính giữ lại phần ngũ cốc của bọn trẻ trí thức chúng tôi, và chúng tôi đã nhờ anh ấy mà lấy lại được tất cả. Không nên tin rằng, nếu thông thường tôi có thể tự xoay xở một mình, khi cần cầu viện cuối cùng
tôi chỉ nép vào sau bờ vai rộng của anh ấy.
Chiều hôm đó, do không có giờ dạy, tôi vội về nhà sớm, mẹ để lại tờ giấy trên bàn nói là cùng đi với ba thăm vài người bạn cũ, và sẽ về ăn tối. Tôi chỉ chuẩn bị bột nhào và băm thịt nhân để làm món mì.
Kiến Bình đến, mang theo luồng khí trong lành, nhưng giá buốt, hai má đỏ bừng vì lạnh, toả đầy năng lượng khoẻ mạnh. Tôi vùi người ngay vào ngực anh, má dán chặt vào những chiếc nút áo lạnh buốt, như một đứa bé bị đối xử bất công và không biết tìm nơi nào để than thở, nhưng không nói gì, mà còn biết nói gì đây?
Ôm nhau một lát, chúng tôi bắt đầu chuẩn bị món mì, vừa nói chuyện vui vẻ. Trong giây phút âu yếm này, tôi cảm thấy biết ơn, bớt căng thẳng, trống rỗng và muốn ngủ đến mức nước mắt chảy ra.
Em trai tôi đi về, cởi bộ áo quần lao động, uống nước rồi đi ra lại ngay như cơn gió.
Gần tám giờ họ mới về đến. Khi mở cửa họ tỏ ra ngạc nhiên một chút, mẹ thoáng nở nụ cười ở đó có thể đọc thấy sự giảng hoà đồng thời với sự chiến thắng của người mẹ. Nét biểu cảm của cha phức tạp hơn nhiều; ngoài sự tiếc nuối quá khứ, còn có một thứ niềm vui bất chợt, dữ dội đến mức có vẻ như không chịu được, và một chút nghi ngại sợ hãi, như một kiểu đề phòng.
" Đây là Kiến Bình, còn đây... " Tôi nghẹn lời, đỏ bừng đến tận chân tóc.
" Đây là ba của Lan Lan " mẹ tiếp lời.
Với giọng vang như loa, Kiến Bình chìa tay ra và nói:" Chào thúc thúc!"
Cha nắm lấy tay Kiến Bình, và giọng ông run lên một hồi lâu: " Chính là cháu đây, cháu... Kiến Bình, tốt, tốt lắm..."
Kiến Bình nói vài câu chào hỏi lệ thường, làm vui lòng ông già đến mức khiến cho ông càng lúng túng hơn. Tôi tin chắc rằng niềm vui của ông chẳng phải do mấy câu chào hỏi này, mà đúng hơn là do cái tình cảm khi ông cuối cùng tìm được một nhịp cầu giữa ông và tôi, nhịp cầu vừa bền vững vừa chắc chắn.
Bữa ăn có không khí ấm cúng, ít nhất là nhìn bên ngoài. Một vài phút khó chịu thoáng qua được xoá tan bởi những câu chuyện vui vẻ của Kiến Bình, lối nói chuyện của anh thật sinh động, thật nổi bật đến nổi tôi thấy hơi ngỡ ngàng.
Ăn xong, cha lấy cái hộp sắt hình khối đựng thuốc lá nhãn hiệu Trung hoa để mời Kiến Bình, hai người thảo luận về phương pháp sấy khô lá thuốc của người Anh, rồi chuyển sang đất kiềm, đất mặn, chuyện sâu ăn hại cây đậu phụng, chuyện ghép cây nho, cạnh hai người tôi ngồi im như phỗng và mỉm cười như hình người mẫu trong tủ kính.
Bỗng nhiên, nụ cười của tôi hơi khựng lại. Tất cả những chuyện vừa rồi phải chăng chỉ là một vở kịch? Với vai chính Kiến Bình, ông rể thành thạo, và tôi, vai cô vợ trẻ bình tĩnh và hiền ngoan. Vì sao đố ai biết được, mọi người đều diễn tận tình, cố hết sức, qua vở diễn này, xoá đi chút gì trong ký ức, chúng tôi diễn niềm vui, sự thanh thản, nỗi đau giấu kín, và trong sự đau xót bung ra và vỡ vụn của gia đình, Kiến Bình là người xa lạ.
Tôi bắt đầu quan sát anh ấy với cái nhìn khác. Giọng nói, cử chỉ, thậm chí đến cả ngoại hình của anh ấy, tất cả đều thuộc về một người lạ. Mọi thứ đều biểu lộ sai lầm, đây không phải là chàng trai tôi đã quen. Có thể nào người ta có thể trở nên xa lạ do lây nhiễm? Thật đáng sợ.
Kiến Bình lén nhìn tôi dò hỏi, chừng như chờ đợi nơi tôi một nụ cười mà lẽ ra tôi phải có đối với anh ấy, phù hợp với vai trò của tôi, đáp lại những câu khen ngợi của anh ấy, điều đó làm tôi chán ngấy hơn, chán ngấy vì thái độ của anh ấy, mà cũng vì thái độ của tôi, chán ngấy khi nghĩ rằng trên đời này mọi thứ đều cùng lúc được tạo nên bởi vui và buồn, đúng và sai, tốt và xấu. Anh ấy nhận ra điều đó và thôi không nói nữa, liếc nhìn đồng hồ, nói vài câu xã giao sáo rỗng, rồi đứng dậy.
Như thường lệ, tôi tiễn anh ấy đến trạm xe buýt, nhưng dọc đường, tôi không mở miệng và giữ khoảng cách. Vẻ chán nản, anh ấy đút tay vào túi, và lấy chân đá một viên sỏi.
Trước mặt chúng tôi, một chung cư che khuất bầu trời đêm. Tôi thấy cô đơn. Tôi thiết tha muốn biết, đằng sau mái hiên những căn phòng nhỏ che giấu những gia đình đổ vỡ, khổ đau kia, loài người làm cách nào để tồn tại được. Thực vậy, trong những căn phòng nhỏ đó, ký ức quá nguy hiểm. Nó chỉ có thể khêu bùng nỗi đau và ly tán mỗi gia đình, cho đến khi tất cả trở thành cát bụi.
Đến trạm xe buýt, lưng quay lại, mắt nhìn những ngọn đèn phía xa, Kiến Bình lên tiếng: " Lan Lan, em muốn anh giải thích chứ?"
"' Không cần đâu."
Anh ấy nhảy lên xe buýt, ngọn đèn đỏ phía sau còn nháy thêm một chốc nữa, rồi biến mất ở ngả rẽ con đường.
V.
Hôm nay có thi đấu thể thao ở trường, thực tình tôi chẳng có can đảm đi dự. Chiều hôm qua, Trương Tiểu Hà cứ bám lấy tôi đòi tôi đi xem nó chạy 100 mét, tôi chỉ cười mà không trả lời. Vậy là con bé làm mặt hờn dỗi, rồi lấy khăn tay lau mồ hôi nhỏ giọt trên má sau buổi tập cật lực vừa mới xong, thấy nó nhìn qua cửa sổ, mặt cau có, tôi ôm lấy vai nó và nói: " Cô sẽ đi, em hài lòng chưa?"
Má lúm đồng tiền lại thấy rõ, nó ngượng ngùng đẩy tôi ra rồi bỏ chạy; đánh lừa trẻ con thật dễ thôi.
Sau khi lười biếng vươn vai, tôi bắt đầu thay quần áo. Mặt trời mùa đông xuyên qua cửa sổ đầy hơi nước, mọi thứ trông mịt mờ và yên lặng, giống như trong cơn mơ chớm tỉnh giấc. Tôi nhẹ nhàng ra khỏi phòng, chừng như mọi người đều đã đi hết rồi. Tôi gội đầu, bỏ quần áo dơ vào ngâm, bận rộn, đi tới đi lui. Sau những việc ban đầu này, tôi ngồi ăn sáng, chợt cảm thấy có ai đằng sau lưng, tôi quay lại: là cha, dựa vào cánh cửa nhà bếp, ông chăm chú nhìn tôi.
Tôi hỏi: " Ba chưa đi sao?"
" Ờ, không, nãy giờ ba ở trên ban công. Hôm nay con không đi dạy sao?"
" Dạ không, có chuyện gì sao ba?"
" Ba muốn", ông ngập ngừng, " ba muốn đi với con ra công viên. Con nghĩ sao?" Có chút gì van nài trong giọng ông nói.
" Dạ được ba." Dù không quay đầu lui, tôi cảm thấy mặt cha sáng lên.
Trời dịu mát, sương mai chưa tan hết, còn đọng lại trên mái hiên ngoài và trên đọt cây. Hai cha con lặng lẽ đi, mãi cho đến công viên không ai nói gì, hay gần như là thế. Tới nơi rồi cha mới chỉ những cây bạch dương trắng cao lớn và nói: " Lần trước ba dẫn con ra đây, những cây này mới trồng thôi." Tôi chẳng có chút kỷ niệm nào về chúng.
Sau một lúc đi bộ dọc theo lối đi bóng mát, chúng tôi đến ngồi trên chiếc ghế băng cạnh hồ, trước một sân bãi xi măng trên đó có mấy chiếc thuyền gỗ cũ lật úp, thuyền đã bị nắng mưa làm hư hao nhiều, chúng được phủ một lớp dày bụi và lá úa; mặt nước hồ đóng băng, thỉnh thoảng nghe vang lên một âm thanh chát chúa.
Cha châm điếu thuốc.
" Những chiếc thuyền vẫn ở chỗ đó", ông nói, chừng như mải mê trong suy tưởng.
" Gì ạ?"
" Thuyền chẳng thay đổi gì. Trước con thích ngồi phía sau, và nghịch ngợm lấy đôi chân trần đập nước rồi hét lớn: " Thuyền máy đây, thuyền máy đây!" Ông thoáng nở nụ cười khi gợi lại kỷ niệm này. " Hồi đó ai cũng nghĩ con là con trai..."
" Thật vậy sao ba?"
" Con thích dao kiếm, súng ống, cứ vào tiệm bán đồ chơi là con chạy đi tìm thiết bị quân sự."
" Chỉ vì con không biết chúng dùng làm gì."
Trên mặt ông thoáng một bóng mờ, tia nhìn cũng tối đi. " Dạo đó, con còn nhỏ xíu."
Ông nín thinh một lúc lâu; những chiếc thuyền đã được kéo lên bờ vẫn còn lưu giữ, dưới cái vỏ lật úp của chúng, những tiếng la inh ỏi của con bé mải ngu ngơ đùa giỡn, nụ cười vô tư của người cha, những nắp đậy các chai nước cam, những dải xa tanh màu xanh, sách vở và súng trẻ con, chúng vẫn lưu giữ mùi bùn của cả năm, và ký ức của hai thập niên.
" Lan Lan ", ông bỗng nói nhỏ, giọng hơi run, " ba... ba xin lỗi con."
Tôi run cả người, từ đầu đến chân.
" Mẹ con đã kể con sống ra sao, suốt những năm đó. Cha đã đau xé lòng, trẻ con thì tội tình gì chứ?"
Hai bàn tay ông co rúm lại và áp sát vào ngực.
" Không nên nhắc lại những chuyện đó nữa." tôi dịu dàng nói với ông.
" Thực tình là những năm đó, ba chỉ sống vì con, ba muốn chuộc mọi tội lỗi, để con của ba có thể có cuộc sống dễ chịu, thế mà..."
Ông nức nở, nghẹn lời. " Con có thể trách ba, Lan Lan, ba đã không thể bảo vệ con, ba không xứng đáng làm cha của con..."
" Không, không... ba đừng nói thế..."
Tôi run cả tay chân, mất hết năng lượng, chỉ còn đủ sức lực để khoát tay nói không. Trước đây tôi ích kỷ quá, đến độ trở nên hèn nhát, đáng khinh! Tôi chỉ nghĩ về mình, mê đắm trong nỗi khổ của riêng mình, tới mức lấy nỗi khổ làm điều vui thú, làm bức tường để ẩn trốn mọi người. Nhưng còn cha, ông ấy sống thế nào? Ông ấy đã sống vì ngươi, ngươi và sự ích kỷ, ngươi và sự lãnh đạm. Có thể nào tiếng nói của huyết tộc lại yếu ớt đến vậy sao? Có thể nào cái mà người ta gọi là lòng nhân đạo đã thôi không còn tồn tại trong tôi?
" ... Cách đây hai mươi năm, ngày ba phải rời khỏi nhà, đúng vào hôm chủ nhật, ba phải đáp chuyến xe lửa chiều, nhưng ba đã ra đi từ ban sáng. Ba không muốn con nhớ cảnh tượng này. Đứng trước cái giường bé nhỏ của con, nước mắt ba tuôn như suối, ba thầm nghĩ: " Bé Lan Lan của ba, có thể có ngày cha con ta gặp lại nhau không?" Con đang ngủ ngon, tay nắm lại, cha thấy đôi má lúm đồng tiền của con, tròn xoe... Tối hôm trước, trước khi đi ngủ, vòng tay ôm lấy cổ ba, con thỏ thẻ: " Ba ơi, ngày mai ba dẫn con đi chơi nhé." " Ngày mai ba bận rồi". Con làm như được nuông chiều, tỏ vẻ hờn dỗi để cho thấy là con không bằng lòng, và ba buộc lòng phải chấp thuận. Lúc ấy con lại còn hỏi: " Đi chơi thuyền nghe ba?" và như thế con mới chịu ngủ yên. Nhưng mà ba đã lừa con, sáng hôm sau khi con thức dậy, con nghĩ thế nào..."
" Ba ơi," tôi chợt thốt lên mà không hề suy nghĩ, rồi gục đầu vào vai cha tôi bật khóc cay đắng.
Tay run run, cha vuốt tóc tôi, " Lan Lan, con gái bé bỏng của ba."
" Ba tha lỗi cho con", tôi nói, giọng nức nở, " con lúc nào cũng là Lan Lan bé bỏng của ba, mãi mãi..."
" Con gái Lan Lan của ba, mãi mãi."
Một con chim tôi chẳng biết tên bay lượn trên mặt hồ và kêu lên những tiếng lạ lùng, góp thêm chút giá lạnh vào phong cảnh mùa đông vốn đã buồn thảm.
Tựa đầu vào vai cha, tôi khóc thật lâu. Từng giọt nước mắt của tôi thấm vào lớp len dày của chiếc áo khoác cũ của cha, tôi tưởng như đang ngửi thấy mùi nồng của thuốc lá cha hút, quyện vào mùi bùn và mùi mồ hôi. Tôi có cảm tưởng nhìn thấy cha trong thời kỳ lao động khổ sai, bị kiệt sức, ngồi cạnh một đống đất, vấn điếu thuốc lá, đưa mắt nhìn ra xa qua đôi ủng da xoạc ra của một người lính. Khó nhọc đi tới trên con đường lầy lội, cha kéo chiếc xe, bánh xe kêu ken két và nhả ra những mảng đất sét đen thui. Đôi ủng da. Cha lấy xẻng đào đất và nặng nhọc đổ lên hai bên đường hào. Đôi ủng da. Cha bưng cái gà mên hai tay rồi cố nuốt hết hớp xúp rau cải. Đôi ủng da... Tôi không đủ can đảm để nghĩ đến nữa, không đủ can đảm; trước bao nhiêu là nỗi khổ, khả năng tưởng tượng của tôi cũng có giới hạn, còn cha, quả là cuộc sống của cha đã vượt quá óc tưởng tượng của con người. Từng phút một, từng ngày một, thêm một ngày nữa, và cuối cùng là tổng cộng hai mươi năm! Không, trong đau khổ, con người phải giao tiếp với nhau; đau khổ, hơn là hạnh phúc, có thể nối kết những tâm hồn con người với nhau, ngay cả khi tâm hồn đã tê cóng, đã bên bờ cạn kiệt.
" Nhìn đây nè, Lan Lan."
Cha lục trong túi và lấy ra một vòng chuỗi xanh thật đẹp." Cái này cha làm ngay trước khi rời nơi ấy, làm từ cán những bàn chải đánh răng cũ, ba muốn tặng con, nhưng ba làm không tinh xảo lắm, sợ con không thích..."
" Ồ, không, con thích lắm chứ." Tôi cầm lấy chiếc vòng, xoa nhẹ trong ngón tay từng hạt ngọc nhỏ, như bao nhiêu tình thương trải qua ngàn thử thách...
Trên đường trở về, cha bỗng dừng lại nhặt một tờ giấy, lật đi lật lại trong bàn tay; tôi vội nắm lấy tay cha và tựa đầu vào vai cha, tôi hiểu được mối cảm xúc của mình: đối diện với mỗi một biểu lộ mới mà tôi chưa hề biết, tôi cứ bị đưa đẩy cố từ chối nó.
Dường như tôi thấy lại, cũng trên con đường mòn đó, cảnh tượng hai mươi năm trước. Một con bé, thắt chiếc ruy băng xanh trên tóc, dang tay ra để cố giữ thăng bằng, chệnh choạng bước đi dọc theo lề đường xi măng; bên cạnh nó là một người đàn ông trung niên, lịch lãm, thong dong đang bước đi, ngăn cách hai người là hàng cây bạch dương con mới trồng, nhưng những cây này sẽ lớn lên rất nhanh, lớn đến mức trở thành một rào chắn không vượt qua được, mỗi cây mang dấu hiệu của hai mươi vòng tròn không đều nhau.
" Ta đi thôi, ba."
Cha thả rơi tờ giấy, cẩn thận lấy khăn tay lau tay, chúng tôi lại lên đường.
Lúc đó, tôi chợt nhớ đến Trương Tiểu Hà, bây giờ chính xác là lúc thi đấu, hẳn là nó đang chạy. Sau lưng nó là một làn khói trắng mỏng của phát súng báo hiệu xuất phát. Trước đám đông khán giả đang đứng lùi ra và lớn tiếng cổ vũ, nó đang ưỡn ngực cố chạy vượt qua vạch trắng của đích đến.
--------------------
(1) Đông Bắc,( 东北 ), tức Đông Bắc Tam Tỉnh: Liêu Ninh, Hắc Long Giang và Cát Lâm.
THÂN TRỌNG SƠN
Dịch và giới thiệu
http://www.chinese-shortstories.com/Nouvelles_de_a_z_BeiDao_Un_inconnu_est_de_retour.htm
mercredi 2 août 2017
NHỮNG CÁNH HẠC
Truyện ngắn
Hwang Sun-Won
Nhà văn Hàn quốc
( 1915-2000 )
Hwang Sun-Won sinh năm 1915 ở vùng Daodong, Nam Bình Nhưỡng. Từ thời còn học trường trung học Sungsil, ông đã có thơ đăng trên tạp chí Donggwang ( Đông quang ) - bài "Giấc mơ của tôi" (1931).
Năm 1934, ông sang Nhật du học ( trường Trung học đệ nhị Waseda ), bắt đầu sinh hoạt văn học nghệ thuật ngay từ thời gian này. Cùng các bạn, ông thành lập hội nghiên cứu nghệ thuật kịch; sau đó xuất bản tập thơ đầu tiên Bangca ( Phóng ca, Wayward Songs ).
Năm 1936, Hwang Sun-won theo học Đại học Waseda, chuyên ngành tiếng Anh. Lúc này, ông chuyển sang viết truyện ngắn và tiểu thuyết.
Sau chiến tranh ( 1950-1953 ), ông sáng tác nhiều hơn, đồng thời với việc giảng dạy Văn học Hàn quốc tại Đại học Kyunghee, Seoul ( 1957-1980 ).
Sự nghiệp văn chương của Hwang Sun- won kéo dài tới 60 năm, tính từ bài thơ đăng báo đầu tiên vào năm 1931 đến tác phẩm cuối cùng được xuất bản vào năm 1992, trải qua nhiều biến cố lịch sử, thời đất nước bị Nhật chiếm đóng, rồi lại chiến tranh và chia cắt hai miền Nam Bắc.
Hwang Sun- won là một trong những khuôn mặt lớn của nền văn học Hàn quốc thế kỷ XX. Ông quan niệm "một nhà văn chỉ lên tiếng thông qua tác phẩm của mình" và chú tâm rèn giũa nghệ thuật làm thơ, viết truyện, không viết những bài tạp văn thiếu tính văn học. Ông muốn cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp viết lách nên ngoài tư cách giáo sư đại học Kyunghee, thành viên của Viện Nghệ thuật Quốc gia, ông không đảm nhận chức vụ nào khác, thậm chí từ chối học vị tiến sĩ do trường đại học trên trao tặng. Hwang Sun- won qua đời năm 2000, để lại một số tập thơ , 7 cuốn tiểu thuyết và trên 100 truyện ngắn.
Truyện ngắn " Những cánh hạc " giới thiệu dưới đây được viết năm 1953 , lấy bối cảnh ngôi làng ở vĩ tuyến 38, ranh giới phân chia lãnh thổ khi kết thúc chiến tranh. Hai người bạn thân thiết một thời bỗng rơi vào hoàn cảnh đối đầu nhau ở hai bên chiến tuyến. Bằng nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật tinh tế, nhẹ nhàng, tác giả đã thể hiện niềm tin ở khả năng hoá giải hận thù, xoá bỏ vết tích chiến tranh của những tình cảm nhân văn, chân thật.
Ngôi làng ở phía bắc biên giới vĩ tuyến 38 nằm nép mình dưới bầu trời cao trong vắt của mùa thu.
Những trái bầu trắng nằm lăn lóc cạnh nhau trên nền đất dơ dáy của căn nhà trống. Mấy người già trong làng lo chuyện dập tắt những cái điếu cày tre trước khi chạy ngang đây, bọn trẻ con quay mặt nhìn chỗ khác. Trên khuôn mặt mọi người đều lộ rõ vẻ sợ hãi.
Nhìn chung ngôi làng ít có vết tích chiến tranh tàn phá, nhưng hình như nó không mang hình ảnh của ngôi làng mà Song-sam từng biết khi còn nhỏ.
Song-sam dừng lại ở dưới chân một cây dẻ trên quả đồi sau làng. Anh leo lên cây. Trong ký ức anh vang lên tiếng thét của ông lão có cái bướu: " Thằng ôn con! Mày lại trèo lên cây dẻ của tao nữa rồi!"
Ông lão chắc cũng đã qua đời, vì trong số mấy người già trong làng Song-sam đã gặp không thấy có ông. Ôm lấy thân cây, Song-sam nhìn một lúc lên bầu trời xanh. Vài hạt dẻ rơi xuống đất khi những vỏ khô nở bung ra. Trước căn nhà nay dùng làm trụ sở cảnh sát hoà bình công cộng, một thanh niên bị trói chặt đang đứng. Anh ta có vẻ là người lạ. Song-sam đi tới gần để nhìn cho rõ. Anh đứng khựng lại, gã thanh niên kia không ai khác hơn là Tok- chae, bạn của anh thuở nhỏ.
Song-sam ngồi xuống nền đất bẩn thỉu và châm điếu thuốc. Tok-chae được cảnh sát áp tải đến Chong-dan.
Một lúc sau, Song-sam lại mồi tiếp một điếu thuốc nữa từ điếu trước rồi đứng dậy.
" Để tôi dẫn anh ta đi!"
Tok-chae quay mặt hướng khác, tránh nhìn Song-sam. Cả hai rời khỏi làng.
Song-sam vẫn tiếp tục hút thuốc, nhưng thuốc lá chẳng có mùi vị gì. Anh chỉ liên tục hít vào rồi nhả khói ra thôi. Anh chợt nghĩ có lẽ là Tok-chae cũng muốn làm một hơi. Anh nhớ ngày xưa hai đứa đã từng núp sau bức tường không để người lớn thấy, chia nhau điếu thuốc quấn từ lá bầu khô. Thế nhưng hôm nay đây, sao anh lại có thể mời thuốc gã kia được chứ?
Một lần, khi cả hai còn nhỏ, anh cùng Tok-chae đi hái trộm dẻ ở vườn nhà ông lão có cục bướu. Hôm đó đến lượt Song-sam trèo lên cây. Bỗng có tiếng la hét của ông lão. Anh trượt tay, rớt xuống đất. Gai cây dẻ chích đầy cả mông nhưng anh vẫn cố chạy. Đến nơi an toàn không ngại ông lão tóm được, anh mới đưa cho Tok-chae coi cái mông. Gỡ những chiếc gai ra đau điếng đến rơi nước mắt. Tok- chae vốc trong túi một nắm hạt dẻ nhét vào túi bạn... Song-sam vứt điếu thuốc anh vừa mới châm, và anh quyết định sẽ không đốt thêm điếu nào nữa khi đang áp giải Tok-chae đi.
Hai người đi đến ngả rẽ trên đồi, ngọn đồi mà anh và Tok-chae thường đến cắt cỏ cho bò ăn cho đến khi Song-sam di chuyển về một nơi gần Chontae, phía nam vĩ tuyến 38, hai năm trước ngày giải phóng.
Song-sam bỗng cảm thấy một cơn giận đột ngột trào dâng, anh hét lên:" Vậy là anh đã tàn sát bao nhiêu người rồi?" Lần đầu tiên Tok-chae liếc nhìn anh vội vàng rồi quay đi. " Anh đã giết bao nhiêu người rồi hả?" Anh hỏi lại. Tok-chae quay về phía anh lần nữa và nhìn trừng trừng. Cái trừng mắt gay gắt và môi mím lại. " Vậy là anh đã từng giết nhiều người rồi phải không?" Song-sam cảm thấy trong lòng nhẹ nhõm hẳn, chừng như gỡ được một mối tắc nghẽn.
" Nếu anh là phó chủ tịch của hội liên hiệp cộng sản, tại sao anh không chạy trốn? Hẳn là anh nằm lại vì một công tác bí mật nào đó! " Tok-chae không trả lời. " Nói đi chớ! Nhiệm vụ của anh là gì? " Tok-chae cứ lầm lũi đi." Hắn đang cố giấu điều gì đó!" Song-sam thầm nghĩ. Anh muốn nhìn rõ mặt hắn nhưng Tok-chae vẫn quay đi.
Đưa tay rờ vào khẩu súng bên hông, Song-sam nói tiếp: " Bào chữa gì cũng vô ích thôi! Thế nào rồi anh cũng bị xử bắn. Sao không chịu nói thiệt ngay bây giờ đi?"
" Tôi chẳng bào chữa gì. Họ đặt tôi làm phó chủ tịch chỉ vì tôi là người bần cùng, tôi chỉ là một nông dân cần cù. Nếu điều đó đáng tội chết thì cứ làm vậy đi. Trước tôi thế nào, nay vẫn vậy. Tôi chỉ giỏi việc cuốc đất." Ngừng một lát, anh ta nói tiếp:" Ba tôi đang nằm liệt giường ở nhà. Ông ấy bệnh từ nửa năm nay."
Cha Tok-chae là một nông dân nghèo, goá vợ, làm việc chăm chỉ, sống chỉ vì con. Bảy năm trước ông bị đau sống lưng, lại thêm bệnh ngoài da nữa.
" Anh có vợ chưa?" Tok-chae nghĩ một lát rồi đáp: "Rồi." " Lấy ai thế?" " Cô Lùn"
" Lấy cô Lùn? " Hay quá ha? Một cô gái lùn mà mập ú, coi bộ chỉ biết đất rộng mà không thấy được trời cao. Ngày trước anh và Tok-chae hay trêu chọc làm nó khóc. Và giờ Tok-chae cưới nó. " Có mấy con rồi? " " Cô ta nói sắp có đứa đầu vào mùa thu này."
Song- sam cố nén tiếng cười bật khỏi cổ họng. Tuy anh vừa hỏi Tok-chae mấy con nhưng anh không thể nhịn cười khi nghĩ đến hình ảnh cô ta ngồi xuống, cái bụng thề lê, với cái khăn quấn quanh. Nhưng rồi anh lại nhận ra bây giờ không phải là lúc cười cợt những chuyện như thế.
" Dù sao, anh không đào tẩu là chuyện lạ đó". " Tôi đã cố chạy thoát đó chứ. Người ta nói khi miền Nam chiếm được, đàn ông không ai thoát. Những người từ 17 đến 40 tuổi bị ép chạy lên miền Bắc hết. Tôi có nghĩ đến chuyện sơ tán, dù có phải cõng ba tôi trên lưng. Nhưng ba tôi không chịu. Làm sao người nông dân chịu bỏ đất đai ruộng vườn khi sắp tới mùa gặt? Ba tôi đã già rồi, cần có tôi đỡ đần, bảo bọc cho cả gia đình. Tôi muốn ở bên cạnh ông và tự tay vuốt mắt cho ông phút lâm chung. Hơn nữa, nông dân như chúng tôi chỉ biết việc đồng áng thì biết đi đâu bây giờ?"
Tháng 6 vừa rồi Song-sam đã tìm cách chạy trốn. Tối đến anh kín đáo báo tin cho cha nhưng ông cũng nói tương tự như vậy. Nông dân bỏ đất đai còn biết đi đâu nữa. Thế là Song-sam đi một mình. Lang thang khắp ngõ ngách làng mạc trong Nam, anh cứ nghĩ mãi về cha mẹ già và mấy đứa trẻ bỏ lại ở nhà. May thay, bây giờ thì mọi người cũng yên ổn cả.
Hai người đi tới sườn đồi. Lúc này, Song-sam bước đi mà mặt quay về nơi khác. Ánh nắng mùa thu chói nóng lên trán. Thật là một ngày lý tưởng để gặt hái, anh nghĩ.
Khi họ đến chân đồi, Song-sam ngập ngừng dừng lại. Giữa cánh đồng, anh đưa mắt nhìn bầy hạc trông như hình người mặc áo trắng đang đứng lom khom. "Nơi đây từng là vùng trung lập dọc theo vĩ tuyến 38. Hạc vẫn sống ở đấy như trước trong khi con người bỏ đi hết rồi. Khi Song-sam và Tok-chae mới 12 tuổi, có lần hai đứa giấu không cho người lớn biết đặt bẫy ở đây và bắt được một con hạc, giống hạc Tanjong. Hai đứa trói con hạc lại, cột cả hai cánh, rồi ngày nào cũng ra thăm, vỗ lên cổ, cỡi lên lưng. Rồi một hôm, chúng nghe hàng xóm thầm thì bàn tán với nhau rằng có người từ Seoul có giấy phép từ văn phòng tổng trấn đến đây bắt hạc về làm mẫu vật hay gì gì đó. Thế là hai đứa vội chạy ra đồng, chẳng ngại gì việc bị phát hiện hay quở phạt, mà chỉ lo cho số phận con hạc của chúng. Không để chậm trễ, mới chạy tới đang mệt hụt hơi, chúng tháo dây trói chân và cánh con hạc. Nhưng con chim bước đi khó nhọc. Có thể nó kiệt sức vì bị trói. Hai đứa tung con hạc lên trời. Bỗng nhiên có tiếng súng nổ. Con hạc đập đôi cánh mấy cái rồi chúi xuống. Có lẽ nó bị bắn trúng rồi, chúng nghĩ. Nhưng sau đó, một con hạc khác từ bụi cây kế bên đập cánh, con hạc của hai đứa vươn cổ ra và kêu lên rồi biến mất trên bầu trời. Rất lâu sau đó hai đứa trẻ vẫn không rời mắt khỏi bầu trời xanh, nơi con hạc của chúng bay vút lên.
" Này, sao ta không dừng lại đây để săn hạc nhỉ?" Song-sam đột ngột nói.
Tok-chae bối rối, đứng như trời trồng. " Tôi lấy sợi dây thừng này làm bẫy, anh đuổi hạc phía bên kia."
Song-sam cởi dây trói tay Tok-chae, chuẩn bị bò vào đám lau sậy.
Mặt Tok- chae trắng nhợt nhạt. " Thế nào anh cũng bị xử bắn thôi!" Câu nói lướt qua trí hắn. Chẳng mấy chốc nữa một viên đạn từ phía Song-sam sẽ bay vụt ra, hắn nghĩ thầm. Đi được vài bước, Song-sam vội quay lui nhìn.
" Này, sao còn đứng đó như thằng đần thế kia? Lo đuổi hạc đi chớ!"
Đến lúc này Tok-chae mới hiểu ra. Hắn bò trong đám cỏ tranh. Một cặp hạc Tanjong, xoải đôi cánh rộng, vút bay lên cao trên nền trời mùa thu xanh trong vắt.
THÂN TRỌNG SƠN
dịch theo bản tiếng Anh của Peter H. Lee
http://bisteachers.cratercomets.com/sinks_jeremy/literature/cranes/Cranes.pdf
Inscription à :
Articles (Atom)
