dimanche 31 octobre 2010

LÀM


---------------------------------------------------------------------------------------------------------

Làm nghĩa là gì? Đại Nam Quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của (viết đúng như bìa gốc là :Đại Nam Quấc âm tự vị của Huình Tịnh Paulus Của) giải nghĩa như sau: Làm là dấy việc, gầy việc, ra tay, ra công, chuyên chủ việc gì. Định nghĩa đó có vẻ không ổn lắm, vì ta lại có thể thắc mắc thế dấy việc, gầy việc là gì? Còn nữa, ai cũng biết có khi làm nhưng chẳng hề ra tay mà chỉ ra chân (như làm bàn chẳng hạn), chẳng hề ra công (như làm cha, làm mẹ, làm anh, làm em…) hay chẳng hề chuyên chủ việc gì cả (như làm gì, làm sao, làm chi, làm ghi…) Thiết tưởng khó mà tìm ra được một định nghĩa vừa ngắn gọn vừa đầy đủ. Một số từ điền tiếng Việt hiện đại có phân biệt 12 nghĩa khác nhau, nhưng có lẽ những cuốn từ điển đó chỉ phân loại một cách khái quát mà thôi chứ thực tế - cũng như động từ ăn và động từ nói- động từ làm chắc là có nhiều nghĩa hơn.

1. Trước hết làm được dùng thay thế cho nhiều động từ khác nhau và, vì thế, nghĩa của nó cũng rất đa dạng :

* Ăn : Làm một chén, làm một bữa, làm một bụng, làm ba miếng.

Nhưng xin đừng lỡ miệng mà nói :”Làm bậy ba miếng rồi đi cho kịp giờ”, nói thế người ta cười cho đó, vì “làm bậy ba miếng” hiểu theo nghĩa xấu là… eo ôi, ẹ lắm!

* Uống : Làm một ngụm, làm một lon, làm một vại, làm vài ly. Ông chồng rất khôn khi biết cách trả lời vợ như thế nầy: “Anh đâu có uống nhiều, anh chỉ làm ít ly thôi mà, say đâu mà say!” Nhưng làm ít ly nghĩa là làm y lít!

* Ngủ : Làm một giấc.

* Hát : Làm tuồng.

* Học : Làm ba chữ .

Tưởng làm ba chữ mà chơi vậy / Bỗng chốc nên quan đã sướng chưa! (Nguyễn Công Trứ / Thua bạc)

Làm ba chữ ở đây còn có nghĩa là đánh ba đồng ba trự, tức là đánh bạc.

* Đánh cờ, đánh bài : Làm một ván

* Du lịch : Làm một chuyến vòng quanh châu Âu.

* Gây gỗ, la mắng: Làm một trận

* Đọc, viết: Làm một mạch mười trang không nghỉ.

* Bắn: Làm một phát

* Đánh, đấm: Làm một cú ngay giữa mặt.

* Ghi chép : Làm sổ

* Sáng tác : Làm thơ, làm văn.

* Viết : Làm đơn, làm giấy.

* Nghiên cứu & viết: Làm sử, làm ngôn ngữ

Chúng tôi vốn là dân làm ngôn ngữ nên nội dung các nhận xét có nghiêng hẳn về phía ngữ học…” ( Nguyễn Đức Dương / Tìm về linh hồn tiếng Việt )

* Chế tạo : Làm nước mắm, làm hộp quẹt.

* Xây cất : Làm nhà.

* Chất, đổ : Làm một đống choán hết lối đi.

* ( Mụt nhọt ) sung tấy : Làm mủ

[ Đừng lầm với Làm mũ ( dấu ngã ) là làm nón mũ .]

* Bài tiết: Làm một bãi, Làm xấu.

* Bài tiết không kiềm chế được: “Ông cụ lại làm trong quần rồi!”

2. Làm là thực hiện một vai trò , trong tuồng, trong kịch hoặc ngoài đời :

- Sử dụng vào một mục đích nào đó :

* Lấy đất làm chiếu, lấy chợ làm nhà.

* Lành làm gáo, vỡ làm môi.

· Áo vải thô nặng trịch, lạnh làm mền, nực làm gối, bốn mùa thay đổi bấy nhiêu; khăn lau giắt đỏ lòm, trải làm chiếu, vận làm quần, một bộ ăn chơi quá thú (Nguyễn Công Trứ / Hàn nho phong vị phú)


- Đóng vai: “Lan làm Trưng Trắc còn Mai làm Trưng Nhị.

- Ở một địa vị nào đó, giữ một vai trò nào đó :

* Làm dâu, làm rể.

Làm dâu khó lắm chị ơi /Vui chẳng dám cười, buồn chẳng dám than. (Ca dao).

* Làm cha làm mẹ, làm ông làm bà, làm con làm cháu…

Ta thường nghe nói : “Tao mà nói láo thì tao làm con mầy!”, hoặc khi nghe nói:”Nè, đừng làm cha nghe không!”, hoặc “ Đừng có làm trời làm đất!” thì phải hiểu là “Đừng có mà chơi trội! Đừng có muốn làm gì thì làm” chứ không phải chữ “cha” hay chữ “trời, đất”ở đây hiểu theo nghĩa thông thường đâu.

* Làm anh làm chị (khác với làm anh chị tức là làm du côn du đãng ):

Làm anh ăn trước bước đầu / Vẽ vời em út ngõ hầu thay cha (Ca dao).

« Làm anh khó lắm/ Phải đâu chuyện đùa/ Với em gái bé / Phải người lớn cơ! / … Làm anh thật khó / Nhưng mà thật vui / Ai yêu em bé / Thì làm được thôi. » (. Phan Thị Thanh Nhàn – Làm anh ).

* Làm trai thì phải:

- Làm trai quyết chí tu thân / Công danh chớ vội, nợ nần chớ lo

chứ đừng như thế nầy:

Làm trai rửa bát quét nhà / Vợ gọi thì dạ:”Bẩm bà tôi đây” thì nhục lắm!

- Làm trai cho đáng nên trai / Xuống Đông đông tĩnh, lên Đoài đoài tan.( Ca dao ).

* Còn làm gái thì: Làm thân con gái chớ thương chồng người

Làm thân con gái chớ ăn trầu người (Ca dao)

Làm hoa cho người hái, làm gái cho người chòng (=ghẹo) nhưng mẹ dặn ai mời trầu thì đừng ăn.

* Làm vua làm quan, làm vương làm tướng, làm ma làm quỉ…

-“Tôi làm trạng nguyên, anh tể tướng..”(Nguyễn Vỹ / Nhớ Trương Tửu)

-“Ta thà làm quỉ nước Nam còn hơn làm Vương đất Bắc (Trần Bình Trọng).

* Làm bạn, làm chủ, làm thuê, làm thầy, làm thợ, làm người :

- Trời đất sinh ra chán vạn nghề / Làm thầy làm thợ với làm thuê

(Tú Xương / Tự trào)

* Làm chủ một hãng buôn là làm với tư cách người chủ, làm chủ tình thế là giữ thế mạnh, thế chủ động cho mình. Trái với làm chủ là làm thuê tức là làm cho người khác để được trả công.

* Làm khách thường dùng với nghĩa : làm ra vẻ người lạ, không thật tình ( trong tiệc tùng, ăn uống).

* Làm người :

Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo (Nguyễn Công Trứ)

Có một câu của Đỗ Phủ ai cũng nhớ: “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”, Cụ Đồ Chiểu đã dịch câu đó thành văn vần rất hay: “ Làm người trong cõi gió mưa / Bảy mươi mấy mặt người xưa thấy nào” (Nguyễn Đình Chiểu / Lục Vân Tiên).

Nguyễn Công Trứ muốn kiếp sau làm cây (cây thông), còn một tác giả khác lại muốn làm cá, làm chim:

“Hoặc làm cá bể đông vùng vẫy/ Hang cửu nguyên tìm lấy nương thân/ Làm chim bay chín tầng vân/ Dọc ngang trời rộng mười phân thanh nhàn (Hồng Vân/ tự thán).

Nhưng “ làm trâu làm bò” chắc không ai muốn, vì không ai muốn ngu (ngu như bò), lại càng không muốn bị người khác gọi mình là bò, là trâu, như cái ông cử nhân trong giai thoại sau đây :

Một ông Cống mới thi đỗ, đệ đơn lên huyện xin làm thịt trâu để khao. Lúc ấy đang có lệnh cấm mổ trâu. Bà huyện Thanh Quan (thường hay thay chồng giải quyết đơn từ) muốn đùa ông Cử nên phê vào đơn rằng:

Người ta thì chẳng được đâu/ Ừ thì ông Cống làm trâu thì làm”.

Ông Cống nhà ta chắc phải ngậm bồ hòn làm ngọt vì “làm trâu” ở đây còn có nghĩa là “làm con trâu” (cho người ta cỡi) chứ đâu phải chỉ là làm thịt trâu.

Nhân vật người vợ trong bài hát “Câu chuyện tê-lê-phôn” của nhạc sĩ Trần Văn Trạch thật là quá quắc khi mắng chồng như sau: “Mầy theo đồ đó, đồ trâu đồ chó, mầy không chịu về sao?”

Nhưng lỡ kiếp sau có làm chó thật thì cũng xin:


“Nếu làm chó, hãy làm chó của samourai” (tục ngữ Nhật)

Hoặc ao ước như một nhà thơ sinh viên Huế thuở nào:

“Kiếp sau nếu làm chó, xin được là chó berger, còn nếu làm người xin được là người sư phạm”

* Làm mai là làm trung gian trong hôn nhân. Người ta cho rằng làm mai là một trong bốn cái ngu ở đời:

Ở đời có bốn cái ngu / Làm mai, gánh nợ, gác cu, cầm chầu.(Ca dao)

- Định vị trí, phân ngôi thứ: Làm vợ cả, làm vợ thứ, làm lẽ, làm thiếp, làm bé, làm chủ, làm tớ…

- “Gió xuôi chạy lá buồm mền / Muốn vô làm bé biết bền hay không? (Ca dao)

- “Tiên Dung nói với Chử Đồng Tử: “Chàng có muốn lấy nàng kia làm thứ thất không?”

- “Đời Hùng Vương có một người tên là Mai An Tiêm, người ngọai quốc, mới được 7 tuổi, do thuyền buôn chở tới. Vương mua về làm đầy tớ” (Hồ Đình Chữ / Tìm hiểu thần thoại và cổ tích thời Hùng Vương)

- “Người hiếu nữ tên gọi là Vương Thúy Kiều vì việc cứu cha nên phải bán mình làm thiếp cho khách họ Mã lấy số tiền sính lễ là bốn trăm năm mươi lạng bạc (Bản dịch Kim Vân Kiều nguyên truyện)


3. Làm là thực hiện một công việc, một nghề nghiệp nào đó :

* Chuyên về một nghề : làm thợ, làm báo, làm quan, làm công chức, làm chính trị, làm cách mạng.

* Gò, sửa khung xe: Làm đồng

* Nấu ăn: Làm bếp

* Xếp đặt phòng, giường ngủ: Làm phòng, làm giường

* Vỡ đất: Làm đất

* Cày cấy, trồng trọt: Làm ruộng, Làm rẩy

* Đốn củi: Làm củi

* Chữa bệnh: Làm thuốc

* Tổ chức, cử hành: Làm lễ

* Sửa sọan thức ăn : Làm cơm, làm gà.

* Sửa sọan bữa ăn lớn để cúng giỗ hoặc cưới xin: Làm cỗ, làm tiệc, làm chay.

“Con cò mắc rò mà chết / Con quạ ở nhà mua nếp làm chay .”( Ca dao).

* Cúng vong hồn lúc mãn tuần: Làm tuần

* Bán trôn nuôi miệng: Làm đĩ, làm gái, làm tiền

* Nâng giá, đẩy giá lên để mong hưởng lợi: Làm giá

* Nhận việc làm xong mới nhận tiền công, không tính thời gian: Làm khoán


4. Làm là thực hiện một hành vi, hành động nào đó :

* Ra dấu: Làm hiệu

* Làm bộ làm điệu để vòi vĩnh vì biết được nuông chiều: Làm nũng

* Bức bách: Làm ngặt

* Khiến người khác phật lòng: Làm mếch lòng

* Bố thí, giúp đỡ người khác: Làm phước, làm phúc, làm ơn

* Làm chuyện lếu láo, hống hách: Làm tàng

* Lên mặt tự cao tự đại: Làm phách

* Bắt bí, lấn tới khi đã được lợi thế: Làm già

Đừng lầm với “làm nhà” mà ở thôn quê miền Trung người ta phát âm là “làm già”. Có người nói vui rằng khi dự tính chi phí làm nhà phải tính già lên một chút, vì thế nào cũng sẽ có chi phí phát sinh không lường trước được. Rõ ràng là làm già chứ không thể làm non được.

* Giữ một chức vụ, nhưng thực tế không làm gì cả: Làm vì

* Đưa bóng vào lưới của đối phương : Làm bàn

( Bàn đây là bàn thắng, không phải là làm bàn, làm ghế như trong lời đối thoại sau: « Nếu sai lời tao sẽ làm ghế cho mầy ngồi. »

*Tìm cách hòa thuận với người đã giận dỗi với mình: Làm lành

Chồng giận thì vợ làm lành / Miệng cười hớn hở rằng: Anh giận gì?/ Thưa anh, anh giận em chi / Muốn cưới vợ lẽ em thì cưới cho” (Ca dao)

* Giả vờ: Làm bộ

* Giả vờ không quen không biết: Làm ngơ, làm lơ

“Đã không như là mơ, nếu tình cờ gặp xin cứ làm ngơ” (Trần Thiện Thanh / Gặp nhau làm ngơ)

* Nêu mẫu mực cho người khác theo: Làm gương

« Cho hay những kẻ tài tình lắm / Trời bắt làm gương để thế gian » (Phạm Quí Thích / Tổng vịnh truyện Kiều)

* Đứng ra xác nhận những điều mình đã chứng kiến: Làm chứng

* Để chứng thực một điều gì: Làm bằng

* Biếu xén vật gì để làm vui lòng ai: Làm quà

* Tô điểm sắc đẹp, sự quyến rũ cho mình : Làm đẹp, làm dáng, làm duyên.

* Gây khó khăn cho người khác : Làm khó

* Quấy nhiễu, làm rộn người khác : Làm phiền

* Làm chuyện sai quấy: Làm bậy

“Do đói quá, người ta đã làm bậy” (Võ Hương An / Chuyện đời vay trả)

“Chúng bây loài bọ gậy / Ở nước chỉ hay quấy / Xuống dưới đã ăn càn / Lên trên lại làm bậy » (Khuyết danh / Vịnh con muỗi)

* Làm cho hãnh diện, tự hào: Làm đẹp mặt

“Mong cho anh sớm thành tài / Trước làm đẹp mặt nở mày mẹ cha…” ( Ca dao)

* Gây tiếng động : Làm ồn

Tuy nhiên, trái nghĩa của làm ồn là làm thinh, mà thinh (= thanh) lại có nghĩa là tiếng!

- Làm thinh là tình đã thuận

- “Lần tiếng sẻ hỏi ai đàn tá?/ Dừng tiếng đàn nấn ná làm thinh’’

(Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị, bản dịch của Phan Huy Thực)

Sở dĩ có sự “tréo cẳng ngỗng” đó là do chữ nầy nguyên là hàm thinh,

hàm nghĩa là ngậm như trong hàm huyết phún nhân(=ngậm máu phun người), lâu ngày hàm thinh bị dùng chệch thành làm thinh.


5. Làm với một vài sắc thái chỉ cách thức, mức độ thực hiện :

* Làm qua loa cho có lệ: Làm lấy rồi, làm lấy có

* Làm không chú tâm, không kỹ lưỡng : Làm ẩu.

* Bắt chước một cách giả trá và làm tổn hại đến cái chân thật : Làm giả

* Làm không suy nghĩ, không cẩn thận : Làm bừa, làm đại.

* Làm lần đầu, chưa phải chính thức, còn sửa : Làm nháp

* Tự mình làm, không nhờ ai khác giúp: Làm lấy

* Làm cho mau rồi, cho xong chuyện: Làm phứt, làm phứt cho xong.

* Giải quyết rạch ròi cho rõ trắng đen: Làm cho ra ngô, ra khoai

* Phóng đại quá đáng một sự việc để gây bất hòa, tranh cãi: Làm to chuyện


6. Tính đa nghĩa của làm còn thể hiện ở các trường hợp dùng với nghĩa bóng, nghĩa mở rộng, nghĩa cũ, nghĩa mới, và thú vị nhất là dùng như tiếng lóng, dùng trong thành ngữ, tục ngữ .

* Tạo ra nhiều tiền của: Làm giàu

* Phát triển, làm cho phong phú: Làm giàu vốn từ vựng, làm giàu kiến thức.

* Bỏ số lẻ thập phân hoặc bách phân của một con số: Làm tròn (rounding)

* Thực hiện đầy đủ (nhiệm vụ): Làm tròn

- Làm tròn còn được sử dụng như “ thực hiện”, “ hoàn thành”:

…. “Xem như đang chết dần/ Người không biết xoay trở/ Khi công việc lở dở/ Hay đau khổ vì yêu/ Người không dám biết liều/ Để làm tròn mộng ước…(Thân Trọng Sơn / Đừng để mình chết dần chết mòn – chuyển ngữ từ bản tiếng Pháp thơ của Pablo Neruda)

* Làm thịt là giết ( thú vật ) nhưng Bọn côn đồ đã làm thịt cô gái thì hiểu là cưỡng bức.

* Làm cỏ là nhổ cỏ, giẫy cỏ và còn có nghĩa là tiêu diệt, tàn sát.

* Làm tiền không phải chỉ là kiếm tiền mà còn hàm ý kiếm tiền một cách bất chính. Còn nếu kiếm tiền bằng “vốn tự có” thì làm tiền đồng nghĩa với làm gái hay làm đĩ.

* Làm nhục là làm tổn hại danh dự người khác bằng lời nói, hành động, sức mạnh, uy quyền. Tuy nhiên nhiều lúc người phụ nữ bị làm nhục thì không phải chỉ danh dự bị tổn hại !

- Một số từ xưa ngày nay ít dùng, có thể khó hiểu :

* Làm lưng : Giữ làm vốn liếng, tạo số tiền ban đầu để làm ăn.

“ Đêm hôm cũng giấn mình đi / Sang đây kiếm ít đem về làm lưng (Hồ Huyền Quy /Truyện Trinh thử)

* Ở Huế trước kia có một từ rất hay mà hiện nay ít thấy dùng: Làm hoanh.

“ – Chiều nay mời cả nhà đi kéo ghế ở “Cháo lòng Đồng Ý”. Tôi bao.

“_ Này, không có tiền thì đừng làm hoanh nghe!”

- Ngược lại, một số từ mới xuất hiện, ban đầu là tiếng lóng rồi phổ biến dần :

* Làm phao :Lén lút chuẩn bị tài liệu để quay cóp trong phòng thi.

* Làm luật : Nộp tiền hối lộ cho quản lý bến bãi hoặc cho cảnh sát giao thông.

* Làm việc : nghĩa là bị thẩm vấn

Nó vừa được mời lên phường làm việc với công an.


- Trong quan hệ nam nữ, để chỉ “ chuyện ấy ” có khi không cần phải nói làm tình mà chỉ là làm hay làm ăn :

- Bố đã 75 tuổi rồi, đâu còn làm ăn gì được nữa!

- (Bạn bè hỏi nhau): “Tối qua mầy chở nhỏ X. đi chơi, có làm ăn gì được không?”

- (Trong phòng, nữ thúc giục nam) : “Làm đi anh!”

-“Chị Xấu ôm anh Giàu khóc, nói: “Ôi chồng ơi, chồng ơi, chó mèo còn biết làm, răng anh (sao anh) không biết?” ( Nguyễn Quang Lập / Xóm đàn bà hoang).

- “Anh nghĩ coi, ngày chui lủi trong rừng, túi (tối) về uống bát rượu, con cái ngủ hết, điện đóm không có, tui với mạ hắn rủ nhau mần cái hè (làm một cái nhé), rứa là đẻ thôi”.( Nguyễn Thế Thịnh / Đánh kẻng gọi con).

“Làm” được gọi là “Mần” ở một số địa phương miền Trung.

Mần việc = Làm việc; Mần ăn = Làm ăn.

Nhiều người nghe không hiểu câu nầy:

“Đôi ta thương chắc mần ri/ Cha mẹ mần rứa anh thì mần răng”(Ca dao) (thương chắc = thương nhau; mần ri = như thế này; mần rứa = làm thế; mần răng = làm sao).

- « Tau ở nhà tau, tau nhớ mi/ Nhớ mi nên phải bước chân đi/ Không đi mi nói răng không đến/ đến thì mi nói đến mần chi /Mần chi tau đã mần chi được/ Mần được tau đã mần lắm khi (Nguyễn Công Trứ/ thư gởi bồ nhi)

Có một giai thoại: Một hôm ông nghè Tân đi thanh tra các hạt, nhân ghé vào một quán hàng, gặp một người đàn bà nhờ ông viết hộ một cái đơn khai để nộp tiền xin chôn trâu. Ông nghè Tân hỏi đầu đuôi mới rõ quan phủ nơi đó đã ra lệnh rằng hễ ai có trâu chết phải nộp 5 quan. Ông nghè liền viết hộ người đàn bà lá đơn như sau:

“Tôi là phận gái nữ nhi/ Có con trâu chết tôi đi trình ngài/ Vội vàng váy trụt đơn rơi/ Tôi mượn một người mần cái đơn ni/ Quan Tri kia hỡi quan Tri/ Xin quan chấp lấy đơn ni làm bằng/ Dù quan có hỏi mần răng/ Rồi quan cắn cỏ lạy thằng mần đơn”

Người đàn bà kia không biết chữ, cứ cầm cái đơn thẳng đến phủ. Quan phủ xem xong toát mồ hôi, hỏi cặn kẽ rồi cho lính đi dò xem ai là kẻ làm đơn. Đến khi biết tác giả bài thơ là quan thanh tra, quan phủ vội vàng đi đón rước rồi van lạy sói trán! Từ đó trong phủ nếu có trâu bò chết thì cứ cho chôn, phủ không dám vòi tiền nữa.(Trần Trung Viên/ Văn đàn bảo giám)

- Tay cầm quạt giấy che trăng/ Thiếp thương chàng vô tận, biết mần răng đặng chừ (=biết làm sao được bây giờ) (Ca dao)

- Ví dù đèn tắt đã có trăng/ Khổ em thì em chịu, biết làm răng đặng chừ ( Bài ca quê hương – Tố Hữu )

Đề cập đến cái hay, cái đẹp, cái tinh túy của tiếng Việt, ngoài chữ “làm thinh” nói ở đọan trên, chúng tôi xin nêu thêm một vài từ kết hợp với ‘làm’ nữa:

a/.- “Làm đôi” bao gồm hai nghĩa đối lập nhau:

- “Tách làm đôi” và “Gộp chung làm một” (một đôi) :

Cô kia cắt cỏ một mình/ Cho tôi cắt với chung tình làm đôi/ Cô còn cắt nữa hay thôi/ Cho tôi cắt với làm đôi vợ chồng” (Ca dao)

Tách làm đôi thì ta có hai phần, còn “làm đôi vợ chồng” thì lại hàm ý gộp lại.

b/.- Diễn tả một ý phủ định bằng một câu hỏi:

- Làm sao em hiểu được? có nghĩa là: Em không hiểu đâu.

“ Những lừa lọc làm sao Em hiểu được/ Lòng thơ ngây trong sáng ánh thủy tinh ( Đặng Lệ Khánh / Nhìn cung tên, nhớ Mỵ Châu)

c/ Những từ kết hợp “làm sao”, “làm cho”, “làm chi” là những từ thường được nhắc đến trên cửa miệng, do đó ta gặp nhiều trong ca dao, tục ngữ, và thơ văn:

* Làm sao = Cớ sao, tại sao: “Làm sao bác vội về ngay”(Nguyễn Khuyến/Khóc Dương Khuê)

* Làm sao = như thế nào: “Nơi ăn đã vậy, nơi nằm làm sao?” (Ca dao)

* Làm sao = làm thế nào, làm cách nào, liệu cách nào.

- “Làm sao cho đỏ môi nhau thì làm” (Ca dao)

- “Anh quê mùa, tay chân đen bùn lấm/ Làm sao thành hoàng tử đánh thức em…(Tràm Cà Mau / Em ngủ giấc thần tiên trên rơm)

* Làm sao = Gì, bao nhiêu

“Quan chẳng quan thì dân, chiếu trung đình ngất ngưởng ngồi trên, nào lềnh, nào trưởng, nào bàn ba, xôi làm sao, thịt làm sao, đóng góp là làm sao, một năm mười hai tháng thảnh thơi, cái thủ lợn nhìn thầy đã nhẵn mặt…”(Nguyên Công Trứ)


* Làm chi:

- “Chàng ơi phụ thiếp làm chi/Thiếp là cơm nguội đỡ khi đói lòng (Ca dao)

- “Mười lăm năm ấy bao nhiêu sướng/ Còn trách làm chi đứa bán tơ” (Từ Đạm / Thơ vịnh Kiều)

- “Tui không điên, cũng không hề bối rối / Ngó làm chi cho tủi nhục đau thương…” (Nguyễn Thị Hoàng / Chi lạ rứa)

- Làm chi cũng chẳng làm chi

Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao!

Làm sao cũng chẳng làm sao,

Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi! (Ca dao)

* Làm ghi :

- “Của tin gọi một chút nầy làm ghi”( Kiều )

- “ Trời cao biển rộng đất dày / Núi Nùng sông Nhị chốn nầy làm ghi” (Ca dao).

d/ Làm gì không phải chỉ có ý hỏi mà còn là :

* Chối bỏ, phủ nhận: Làm gì có!

* Thách thức: Làm gì nhau nào!

Có rất nhiều thành ngữ, tục ngữ quen thuộc liên quan đến động từ làm này :

*Chín bỏ làm mười, dám làm dám chịu, ai làm nấy chịu, bụng làm dạ chịu, dám nghĩ dám làm :

Những năm gần đây ta hay gặp một thành ngữ chế diễu hạng người chỉ tay năm ngón, chỉ biết sai khiến hay xúi giục người khác làm, còn mình thì không dám làm hoặc làm không được: Dám (Giám) đốc chứ không dám làm

* Làm cỗ cho ma ăn : Làm khó nhọc để người khác hưởng.

* Quít làm cam chịu :Người nầy làm mà người khác lãnh hậu quả.

* Cưa sừng làm nghé : Làm ra vẻ còn tơ, còn trẻ.

* Làm bia đỡ đạn : Chịu búa rìu dư luận, chịu nguy hiểm thay người khác.

Chúng quen thuộc đến độ dễ dàng đi vào ngôn ngữ hàng ngày của mọi người.

Ta hãy nghe một ông chủ la rầy thuộc cấp của mình để thấy rõ điều đó :

“ Tôi đã bảo là cứ làm như tôi nói chứ đừng làm như tôi làm mà anh có nghe đâu. Nếu anh làm như tôi làm thì anh lên làm sếp cho rồi! Anh nên nhớ làm thì có chúa múa thì có trống mà anh làm vậy coi sao được, làm thử rồi làm thiệt, làm lui làm tới, làm đi làm lại, làm rồi làm nữa,làm mãi làm hoài mà cứ làm sai, làm hư, làm trái, làm thừa làm thiếu, làm quanh làm quất, làm tưới hột sen, chẳng có trách nhiệm gì cả. Lại còn dám nói “làm cho lắm tắm cũng ở truồng” nữa chứ! Nếu anh siêng năng chăm chỉ một chút thì có khi tôi cũng nghĩ lại mà chín bỏ làm mười. Đằng này anh là cái thứ làm thì ốm mà đâm cốm thì siêng. Thật là đồ làm dối, làm biếng, làm lấy có, làm cho có làm, làm lấy rồi, làm tào lao, làm qua quít, làm bỏ mứa, làm ẩu xỉ tả, làm ẩu làm tả, làm bậy làm bạ, làm cho có lệ, ăn vặt quen miệng làm biếng quen thân, làm qua loa, làm qua-loa-rờ-măng, làm như nhà trò giữ nhịp; người đâu mà ăn thì như rồng cuốn, nói như rồng leo, mà làm thì như mèo mửa. Lại còn làm bộ làm tịch, nào ai làm tình làm tội gì anh mà mỗi lần nói động tới là anh làm mặt sưng mày sỉa, anh làm mình làm mẩy; làm kinh doanh mà cứ như làm văn nghệ không bằng, việc cần làm anh không làm, anh đi làm chuyện ruồi bu, anh ra mặt dạy tôi phải biết làm việc thiện, phải biết làm phúc à? Thế anh không nghe người ta nói làm phúc phải tội, làm phúc quá tay ăn mày không kịp à? Thôi không nói nhiều. Làm trong giờ của nhà nước mà như thế thì kể từ nay anh phải làm thêm ngoài giờ, làm tăng ca, ăn đến nơi thì làm phải cho đến chốn, làm cho có mưa gió mà ăn chứ làm cái kiểu đó thì tôi biết ăn làm sao nói làm sao với cấp trên đây? Tôi nói vậy anh nghe lọt lỗ tai thì tốt, còn nếu anh muốn làm lại cuộc đời, muốn tìm nơi khác để làm quan rồi ngồi không mà ăn được lộc vua, ở chùa ăn được lộc phật, thì tùy anh, tôi không ép.”

Và đây là câu nói lầm bầm của anh nhân viên khốn khổ : “Đúng là đồ làm lớn làm láo, ỷ thế làm ông chủ rồi tha hồ làm tàng, làm phách, làm ta đây, làm mặt làm mày, làm mưa làm gió, làm hùm làm hổ. Rõ ràng là giận ai đâu rồi đem mình ra làm cục kê, làm bia đỡ đạn. Tưởng ổng ăn nên làm ra, tay trắng làm nên sự nghiệp thì cũng biết nhón tay làm phúc làm phước với kẻ ăn người làm trong sở, nào dè… còn lâu ông ấy mới biết làm phúc: làm phúc nơi nao, cầu ao chẳng bắc. Thú thật là đã có lúc mình quyết làm cho ra lẽ, làm cho ra ngô ra khoai, bởi vì nghĩ mình đây: Vốn đã biết làm thân kẻ khó/ Có dám đâu đánh đọ với giàu (Bần nữ thán), nhưng lúc đói chẳng ăn vụng, lúc túng chẳng làm càn. Phải chi mình biếng nhác, trễ nãi làm hư việc của ổng thì mình cũng đành bụng làm dạ chịu, ai làm thì nấy chịu, vì xưa nay mình là kẻ dám nghĩ dám làm, dám làm dám chịu. Đằng này mình thấy mình vẫn luôn luôn làm tốt, thậm chí làm quá tải, lại còn làm dâu cả trăm họ mà ổng còn chưa vừa lòng. Mình làm vậy có khác chi làm đầy tớ không công. Ngày ngày làm như đánh vật, làm không kịp thở ăn chẳng kịp nhai ( Lục súc tranh công ), làm đổ mồ hôi sôi nước mắt, làm ngày làm đêm, làm thâu đêm suốt sáng, làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm, mình vẫn hiểu rằng tay làm hàm nhai tay quai thì miệng trễ nên luôn luôn làm cật lực, làm hết sức mình, lúc nào cũng vừa làm vừa học, đâu có như người ta làm chơi mà đòi ăn thiệt, làm chung mà đòi ăn riêng, làm khi lành để dành khi đau chứ đâu có làm đồng nào xào đồng đó, chẳng những một mình mình làm mà còn huy động cả nhà góp công góp sức nữa:

Thế mà cả gái trai già trẻ/ Đều còng lưng làm nghé làm trâu (Ca dao)

Thế mà đói vẫn hoàn đói. Thật là hay làm thì đói hay nói thì no. Ổng đã làm mặt lạ với mình, làm tổn thương lòng tự trọng của mình, nói những câu như giọt nước làm tràn ly, mình còn biết làm sao đây hở trời! Thật đúng là làm ơn mắc oán!


Một từ với 12 nghĩa ghi trong từ điển ( như đã nói ở phần đầu ) xem ra đã là nhiều. Vậy mà chịu khó tìm thêm một chút bài viết này đã ghi nhận trên 80 nghĩa và chắc chắn là chưa hết. Ai dám bảo là tiếng Việt nghèo ?

Thân Trọng Thủy

vendredi 20 août 2010

HÃY ĐỢI ANH





Đợi anh em nhé, anh về,
Vững lòng chờ đợi, em nhé,
Hãy đợi, khi mưa thu vàng
Gợi lòng người buồn tái tê.
Hãy đợi, khi đông tuyết giá,
Hãy đợi, khi hạ nắng thiêu,
Hãy đợi, khi qua ngày tháng,
Không còn ai chờ đợi ai.
Hãy đợi, khi từ xa lắc
Thư tin chẳng mấy khi về
Hãy đợi, khi người cùng cảnh
Chán chê, chẳng thiết đợi chờ.


Đợi anh em nhé, anh về,
Những điều tốt đẹp đừng chúc
Cho ai vẫn tâm niệm rằng
Đến nay quên là phải lúc.
Cho dù cả con và mẹ
Đều tin là anh không còn.
Cho dù bằng hữu bỏ cuộc
Ngồi bên bếp lửa quây quần
Cùng nhau uống ly rượu đắng
Tưởng niệm linh hồn bạn thân
Thì em cũng hãy cứ chờ
Đừng vội cùng người nâng cốc !


Đợi anh em nhé, anh về,
Kiêu hãnh nhạo cười cái chết
Cứ để ai không chờ đợi
Buông lời : Chỉ may đấy thôi !
Không đợi, làm sao họ biết
Giữa làn đạn lửa bom mưa
Việc em trông ngóng đợi chờ
Đã cứu cho anh khỏi chết.
Em ạ, chỉ đôi ta thôi
Hiểu nhờ đâu anh sống sót :
Đơn giản vì em biết đợi
Không như bao nhiêu người khác.

KONSTANTIN SIMONOV, 1941


THÂN TRỌNG SƠN dịch

( Theo bản tiếng Anh : Wait for me. Tham khảo bản tiếng Pháp : Attends-moi )



Wait For Me –
Konstantin Simonov, 1941

Wait for me, and I will return.
Only truly wait.
Wait while bringing sorrow
The autumn rains come late.
Wait while snow is blowing,
Wait while heat burns haze,
Wait while others cease to wait,
Forgetting yesterdays.
Wait when letters cease to come
From places far away,
Wait, while others tire of waiting
Together day after day.


Wait for me, and I will return.
Wish no good to those you’ve met
Who tell you, without thinking,
That it is time to forget.
Let my son and mother believe
That I have met my doom,
Let my friends all quit their hopes,
In the fire-lit gloom
Let them drink their bitter wine,
In memoriam…
Wait. Oh, do not hasten
To sit and drink with them.


Wait for me, and I will return,
Despite all death can do.
Let those who didn’t wait for me
Say “Just lucky he came through.”
Those who didn’t wait can’t know
How, while battle blazed,
Just by waiting for your own
Me you truly saved.
We will know how I survived
Only just us two:
Simply, you knew how to wait
As no one else could do




Attends-moi
(Simonov, 1941)


Si tu m'attends, je reviendrai,
Mais attends-moi très fort.
Attends, quand la pluie jaune
Apporte la tristesse,
Attends quand la neige tournoie,
Attends quand triomphe l'été
Attends quand le passé s'oublie
Et qu'on attend plus les autres.
Attends quand des pays lointains
Il ne viendra plus de courrier,
Attends, lorsque seront lassés
Ceux qui avec toi attendaient.


Si tu m'attends, je reviendrai.
Ne leur pardonne pas, à ceux
Qui vont trouver les mots pour dire
Qu'est venu le temps de l'oubli.
Et s'ils croient, mon fils et ma mère,
S'ils croient, que je ne suis plus,
Si les amis las de m'attendre
Viennent s'asseoir auprès du feu,
Et s'ils portent un toast funèbre
A la mémoire de mon âme..
Attends. Attends et avec eux
refuse de lever ton verre.


Si tu m'attends, je reviendrai
En dépit de toutes les morts.
Et qui ne m'a pas attendu
Peut bien dire : "C'est de la veine".
Ceux qui ne m'ont pas attendu
D'où le comprendraient-ils, comment
En plein milieu du feu,
Ton attente
M'a sauvé.
Comment j'ai survécu, seuls toi et moi
Nous le saurons,
C'est bien simple, tu auras su m'attendre,
comme personne.



Nguyên tác bài thơ này là tiếng Nga, với nhan đề “Жди меня” , của nhà thơ ( nhà văn, nhà biên kịch ) Константин Михайлович Симонов ( Konstantin Mikhailovich Simonov , 1915 - 1979 ) sáng tác năm 1941, dành tặng cho người yêu là nghệ sĩ Valentina Serova. Bài thơ ra đời trong thời gian phát xít Đức dữ dội tấn công Liên Xô. Trong thời kỳ chiến tranh, bài thơ đã được phổ biến rộng rãi và dịch ra nhiều thứ tiếng, vì tâm trạng của nhà thơ cũng là tâm trạng của bao nhiêu thanh niên ra mặt trận, với lời nhắn gởi về người yêu, người vợ ở hậu phương.


Bản dịch tiếng Việt đầu tiên là của Tố Hữu, “ Đợi Anh về “ , dịch từ bản tiếng Pháp, ban đầu được phổ biến trên báo chí từ năm 1949, sau được đưa in vào trong tập thơ Việt Bắc.
Ở miền Nam ít người tiếp cận được bài thơ dịch này nhưng lại được nghe bài ca cùng tên do nhạc sĩ Văn Chung ( 1914-1984 ) phổ nhạc, qua tiếng hát Elvis Phương :


Em ơi ! Đợi anh về ! Đợi anh hoài em nhé,
mưa có rơi dầm dề, ngày có buồn lê thê
thì em ơi em cứ đợi ...

Em ơi ! em cứ đợi dù tuyết rơi gió nổi,
dù nắng cháy em ơi ...! (1)
Bạn cũ đã quên rồi, đợi anh hoài em nhé .
Tin anh dù vắng vẻ, lòng ai dù tái tê,
chẳng mong chi ngày về
thì em ơi em cứ đợi ...

Đợi anh, anh lại về trong tiếng cười ngạo nghễ
đợi anh, anh lại về trong tiếng cười ngạo nghễ

Ai ngày xưa rơi lệ hẳn cho sự tình cờ
ai ngày xưa rơi lệ, nào có biết bao giờ
nào có biết bao giờ bởi vì em ước mong,
nào có biết bao giờ bởi vì em trông ngóng

Trông cho tan giặc bước đường quê (2)
anh của em lại về ...
Anh của em lại về
Anh của em lại về .

( Đợi Anh về - Nhạc : Văn Chung , Lời : thơ Tố Hữu )

(1) Elvis Phương hát là : “ dù gió lên bão nổi / dù nắng cháy sương rơi “
(2) Elvis Phương : “ … tan giặc phía đường xa “
Cả hai “cải biên” này đều không đúng.






Sau này, khi có điều kiện đọc được toàn vẹn bài thơ dịch của Tố Hữu, ta có thể nhận thấy rằng, cũng như nhiều nhạc sĩ khác đã làm khi phổ thơ, Văn Chung không lấy nguyên văn toàn bài thơ. Có lẽ vì muốn nhấn mạnh ở cái tâm trạng lạc quan, tin tưởng của người chiến sĩ ở mặt trận - tin ở ngày chiến thắng sẽ đến, tin ở sự chờ đợi thủy chung của người yêu – nên nhạc sĩ đã chuyển đoạn nhạc cuối sang nhịp điệu hùng mạnh, dồn dập và kết thúc bằng cách lặp lại “ Anh của em lại về ”. Người nghe nhạc có thể thỏa mãn, nhưng người đã đọc thơ lại tiếc vì nhạc sĩ đã bỏ mất cái tứ rất đắt ở đoạn kết bài thơ.


Ceux qui ne m'ont pas attendu
D'où le comprendraient-ils, comment
En plein milieu du feu,
Ton attente
M'a sauvé.
Comment j'ai survécu, seuls toi et moi
Nous le saurons,
C'est bien simple, tu auras su m'attendre,
comme personne.


Không đợi, làm sao họ biết
Giữa làn đạn lửa bom mưa
Việc em trông ngóng đợi chờ
Đã cứu cho anh khỏi chết.
Em ạ, chỉ đôi ta thôi
Hiểu nhờ đâu anh sống sót :
Đơn giản vì em biết đợi
Không như bao nhiêu người khác.
( TTS )



Bài thơ dịch của Tố Hữu :

Đợi Anh về.
Em ơi, đợi anh về
Đợi anh hoài em nhé,
Mưa cứ rơi dầm dề
Ngày cứ dài lê thê
Thì em ơi cứ đợi.

Dù tuyết rơi gió nổi
Dù nắng cháy em ơi
Bạn cũ có quên rồi
Đợi anh hoài em nhé.

Tin anh dù vắng vẻ,
Lòng ai dù tái tê
Chẳng mong chi ngày về
Thì em ơi, cứ đợi.

Em ơi, em cứ đợi
Dù ai nhớ thương ai
Chẳng mong có ngày mai
Dù mẹ già con dại
Hết mong anh trở lại

Dù bạn viếng hồn anh
Yên nghỉ nấm mồ xanh
Nâng chén tình dốc cạn
Thì em ơi mặc bạn
Đợi anh hoài em nghe
Tin rằng anh sắp về!

Đợi anh, anh lại về
Trông chết cười ngạo nghễ
Ai ngày xưa rơi lệ
Hẳn cho sự tình cờ

Nào có biết bao giờ
Bởi vì em ước vọng,
Bởi vì em trông ngóng
Tan giặc, bước đường quê
Anh của em lại về.

Vì sao anh chẳng chết
Nào bao giờ ai biết
Có gì đâu em ơi
Chỉ vì không ai người
Biết như em chờ đợi.


Tố Hữu dịch bài thơ này từ bản tiếng Pháp. Tra cứu trên mạng ta có thể tìm thấy nhiều bản dịch tiếng Anh khác nhau nhưng chỉ có một bản tiếng Pháp duy nhất, không ghi tên người dịch. Các bản dịch đều khá trung thành với nguyên tác, kể cả phần bố cục. Nhan đề các bài thơ dịch đều sát với nguyên tác tiếng Nga “ Жди меня ” ( Attends-moi , Wait for me, Hãy đợi anh ). Жди меня được lặp lại ở câu đầu của cả ba khổ thơ : “ Жди меня, и я вернусь.” Hãy đợi anh, và anh sẽ trở về. Жди, thức mệnh lệnh của động từ җдaть, sau đó còn được lặp lại sáu lần trong khổ thơ thứ nhất. Hãy đợi anh, hãy đợi, hãy đợi, hãy đợi … Đó là lời nhắn gởi, gần như là lời cầu khẩn thiết tha, của người chiến sĩ ngoài mặt trận với người vợ / người yêu ở hậu phương, với lòng mong mỏi, niềm tin tưởng rằng sự chờ đợi kiên trì của người ở lại sẽ giúp anh vượt qua hiểm nguy, gian khổ để trở về. Điều đáng ngạc nhiên là bản dịch tiếng Pháp sau nhan đề Attends-moi dịch đúng nguyên tác Жди меня thì các câu đầu của mỗi khổ đều đổi là “ Si tu m’attends ” Cái ý nhắn gởi, hứa hẹn, động viên … của Жди меня, Hãy đợi anh, mà chuyển thành “ Si tu m’attends ” “ Nếu em đợi anh, … ” e có phần yếu đuối, bi quan quá chăng.


Tuy không tham khảo nguyên tác tiếng Nga mà chỉ căn cứ vào bản tiếng Pháp để dịch, Tố Hữu đã không lệ thuộc vào mệnh đề “ Si tu m’attends ”đó mà vẫn viết “ Đợi Anh về ”, “ Đợi anh hoài em nhé …” Đó không phải là chi tiết duy nhất chứng tỏ tính độc lập của nhà thơ khi làm công việc chuyển ngữ. Nếu bản tiếng Pháp theo sát nguyên tác ở hình thức một bài thơ ba khổ, mỗi khổ mười hai câu, thì “Đợi anh về” lại là một bài có tám khổ thơ với số câu mỗi khổ không đều nhau. Bài dịch, với thể thơ năm chữ, thoát ra hẳn văn bản gốc, nhất là với những lối diễn đạt, những hình ảnh quen thuộc, gần gũi
với thơ Việt.

- Em ơi em cứ đợi
Em ơi, đợi anh về

- Tan giặc, bước đường quê
Anh của em lại về.

Và đây nữa, chẳng ai nghĩ là thơ dịch :
Mưa cứ rơi dầm dề
Ngày cứ dài lê thê.

Hai câu này chuyển từ :
Attends, quand la pluie jaune
Apporte la tristesse.

La pluie jaune, cơn mưa vàng, hình ảnh này chưa thấy trong thơ Pháp, trong tiếng Pháp. Cũng phải thôi vì dịch giả Pháp đã dịch sát từ nguyên tác tiếng Nga :
Жди, когда наводят грусть
Желтые дожди,
Pluie jaune, mưa vàng, chính là желтые дожди đó.

Đọc tiếp những câu sau, ta có thể hiểu được, qua mạch văn, ý tứ của người chiến sĩ nhắn gởi người ở nhà hãy kiên trì chờ đợi bất chấp biến chuyển của thiên nhiên, qua dòng chảy của thời gian, qua tuyết đông, nắng hạ. Vậy thì mưa vàng chính là mưa mùa thu, khi cảnh vật âm u, vàng vọt, gợi nên nỗi sầu không dứt. Phải chăng với cách hiểu như thế mà một dịch giả tiếng Anh đã thêm vào tính từ « dreary » ( là thê lương, ảm đạm) không có trong nguyên tác ? :
( Wait for me, and I’ll come back !
Wait with all you’ve got )
Wait, when dreary yellow rains
Tell you, you should not.


Tố Hữu đã thoát khỏi những hình ảnh xa lạ đó bằng hai câu “ Mưa cứ rơi dầm dề / Ngày cứ dài lê thê ”, đọc lên nghe như thơ sáng tác chứ không phải thơ dịch.
Ở những ví dụ nêu trên, lối dịch thoát như thế có thể tạo được sự đồng cảm nơi người đọc vì dù sao ý tưởng, tâm trạng của tác giả vẫn được tôn trọng, chỉ có cách diễn đạt là khác thôi. Tuy nhiên, khi đọc tiếp những khổ thơ sau thì người đọc khó chia sẻ được với chủ ý của dịch giả .

Dù bạn viếng hồn Anh
Yên nghỉ nấm mồ xanh
Nâng chén tình dốc cạn
Thì Em ơi mặc bạn
Đợi anh hoài nghe em
Tin rằng anh sắp về.

Đối chiếu với văn bản gốc dưới đây thì sáu câu thơ dịch trên, do “ thoát ” quá xa nên có phần mất đi sự tinh tế, ý nhị, nhất là ở hai câu : “Yên nghỉ nấm mồ xanh / Nâng chén tình dốc cạn “

Si les amis las de m'attendre
Viennent s'asseoir auprès du feu,
Et s'ils portent un toast funèbre
A la mémoire de mon âme..
Attends. Attends et avec eux,
refuse de lever ton verre.

Cho dù bằng hữu bỏ cuộc
Ngồi bên bếp lửa quây quần
Cùng nhau uống ly rượu đắng
Tưởng niệm linh hồn bạn thân
Thì em cũng hãy cứ chờ
Đừng vội cùng người nâng cốc !
( TTS )

Hãy đọc thêm khổ thơ tiếp theo :

Đợi anh, anh lại về
Trông chết cười ngạo nghễ
Ai ngày xưa rơi lệ
Hẳn cho sự tình cờ.

Dù ủng hộ mọi sáng tạo của nhà thơ khi chuyển ngữ, người đọc vẫn thấy có gì đó không ổn trong câu « trông chết cười ngạo nghễ » : trong tiếng Việt động từ « chết » nếu dùng như danh từ phải nói là « cái chết, sự chết », trông ( nhìn ) cái chết, chứ nói « trông chết » nghe sao kỳ kỳ !. Chỗ này bản tiếng Pháp là « en dépit de toutes les morts » , và bản tiếng Anh « despite all death can do », gần sát với nguyên tác tiếng Nga « Всем смертям назло ” , trêu ngươi mọi cái chết . Có lẽ cũng vì thấy điều này nên nhạc sĩ Văn Chung khi phổ nhạc bài thơ này đã sửa thành « trong tiếng cười ngạo nghễ » để giữ được tiếng Việt trong sáng, nhưng tiếc thay lại làm mất đi cái ý trêu ngươi / xem thường / bất chấp mọi cái chết.

Mạch cảm xúc đã đẩy người dịch đi quá xa ở hai câu tiếp theo « Ai ngày xưa rơi lệ / Hẳn cho sự tình cờ » , cả tình lẫn ý không gắn với nội dung toàn bài, không hề có trong nguyên tác, cũng không thấy trong bất kỳ một bản dịch nào.

Một vài từ, một vài câu, một vài ý đọc được trong bản dịch mà khi đối chiếu với nguyên bản thấy hoàn toàn xa lạ, điều này vẫn thường xảy ra bởi, suy cho cùng, trong dịch thuật văn học, việc trung thành tuyệt đối với văn bản gốc là điều khó có thể thực hiện được. Người dịch quan tâm nhiều nhất đến việc chuyển tải nội dung, ý nghĩa của văn bản gốc bằng sự diễn đạt qua một ngôn ngữ khác với tất cả những đặc trưng về ngữ nghĩa, cú pháp, phong cách… của nó. Mỗi ngôn ngữ lại có cách thể hiện riêng cho nên thử thách lớn nhất – nếu không nói là rủi ro lớn nhất – của người dịch là việc không trung thành với nguyên tác về nội dung hay hình thức, về văn phong hay ý nghĩa, về tư duy hay tình cảm. Có vẻ như phần lớn dịch giả chuộng một bản dịch « đẹp » hơn một bản dịch « sát » bởi ai cũng muốn bản dịch của mình cũng là một tác phẩm nghệ thuật đích thực.


THÂN TRỌNG SƠN
8/2010

mardi 30 mars 2010

HUYỀN THOẠI TRẬN MÙ U

Sau khi đọc bài " LỊCH SỬ VÀ HUYỀN THOẠI QUA CA DAO "
http://sonthan.blogspot.com/2009/05/lich-su-va-huyen-thoai-trong-ca-dao.html,
một bạn đọc ( không ghi tên ) có chuyển đến lời bình sau đây :


Đề nghị tác giả viết thêm huyền thoại về câu đố sau đây:
Trái chi nho nhỏ dễ thương/
Mắc hai chứng bịnh cũng liều đánh Tây.


Câu đố này chỉ trái mù u ( hai chứng bệnh )liên quan đến một sự kiện lịch sử đã được tác giả VÕ HƯƠNG AN giải thích trong bài viết sau đây.
Vậy xin đăng bài này ( với sự cho phép của tác giả ) theo yêu cầu của bạn đọc.

( TTS).


Huyền thoại trận Mù-u
Võ Hương-An


Thập niên 1960, Nhật Bản có một cuốn phim đen trắng rất nổi tiếng, phim Rashomon, Lã Sinh Môn. Phim nổi tiếng không vì tài tử xuất sắc, tiếng tăm gạo cội, cũng không vì hình ảnh đẹp, dàn dựng công phu tốn kém, mà vì cốt chuyện thâm thúy. Dưới cổng Rashomon một chiều mưa tầm tã, mấy người trú mưa cùng kể về một vụ án mạng nhưng không ai giống ai, vậy thì sự thật ở chỗ nào? Thế mới biết bắt đúng sự thật không phải dễ, huống hồ là sự thật lịch sử, những việc khi chúng ta nói tới đã cách chúng ta biền biệt cà hàng chục, hàng trăm hay hàng ngàn năm. Tam sao thất bản, nếu có, cũng là chuyện thường, nhất là khi người kể, người viết không nắm bắt được dữ kiện, lại phóng chiếu câu chuyện bay bổng theo trí tưởng tượng của văn chương. Tôi nhớ đến những hòn bi mù-u thời thơ ấu và trận giặc mù-u lãng đãng mây khói trong không khí cổ tích.

Lần đầu tiên được thoát khỏi sự canh chừng của mệ ngoại để theo lũ bạn hàng xóm mặc quần xà-lỏn, quẹt mũi ngang, chạy rông từ xóm Tả Tam trong Thành Nội (Huế) lên Cầu Đất, ra đường Ngọ Môn (23 tháng 8), đường Cột Cờ (Ông Ích khiêm), lượm trái mù u về làm bi để đánh bi mo, đánh đáo, quả là một cuộc phiêu lưu tuyệt vời. Con nít, đứa nào lại không thích đánh bi, nhưng tiền đâu để mua bi thủy tinh như tụi con nhà giàu? Những trái mù u chín vàng, rụng xuống cỏ, lâu ngày mưa nắng làm cho lớp vỏ ngoài tróc đi, còn lại cái hột tròn có vỏ cứng, con nhà nghèo lượm về làm bi, tuy không đẹp như bi thủy tinh nhưng chơi cũng hết ý như ai. Khi tôi vỗ vào hai cái túi áo cổ kiềng đầy mù-u để khoe thành tích phiêu lưu với mệ ngoại, bà bình luận ngay:

-Hồi xưa, mấy ông tướng của mình dùng mù-u ni để đánh trận với Tây đó. Giết Tây chết như rạ.
Nghe chuyện lạ, tôi hỏi ngay:
-Bộ mấy ông dùng mù u làm đạn để bắn Tây hả mệ?
-Không, nghe kể là mấy quan tướng của mình thấy Tây không có đầu gối (?!), khi đi, hai chưn cứ thẳng băng như cột tre, nếu ngã té chắc chắn không đứng dậy được. Bởi rứa, mấy quan tướng sức dân nạp mù-u, rồi sai quân rải ra đầy đường. Tây đi giày, đạp nhằm mù-u, trượt té, nằm thẳng cẳng. Quân mình phục sẵn, tha hồ đổ ra đánh giết, Tây thua.

Lớn lên, cũng có lúc nghe một đôi người cao giọng kể về thành tích trận mù-u đánh Tây, nhưng khi hỏi đó là trận nào, xảy ra ở đâu, thì không người nào nói cho ra vạch. Đọc trong sử, cũng không thấy có chỗ nào nhắc đến vụ mù-u, lòng cứ vẩn vơ thắc mắc, chuyện đánh giặc giữ nước mà nghe như đùa. May mắn, về sau chuyện này lại được học giả Thái Văn Kiểm nhắc đến trong cuốn Cố Đô Huế rất nổi tiếng của ông.

“Ngày nay trong văn chương bình dân còn truyền lại câu ca dao:
Văn Thánh trồng thông
Võ Thánh trồng bàng
Ngó vô Xã Tắc: hai hàng mù u

“Câu này nhắc lại lại một chiến công dưới thời vua Tự Đức. Khi quân Pháp đổ bộ lên cửa Thuận An, kéo binh vào thành Huế, quân ta mai phục hai bên đường vào đàn Xã tắc, bèn lấy trái mù u đổ ra đầy đường. Quân Pháp đi giày da, đạp lên mù –u, nhào té đảo điên. Quân ta thừa thế nhảy ra đánh xáp lá cà làm cho quân Pháp phải chạy tán loạn. Vì vậy mới gọi là trận giặc mù u. Ngày nay, hai bên đường xã tắc, còn hai hàng mù- u (callophylum) cao ngất nghểu thỉnh thoảng rụng trái trên vai người đi đường, như để nhắc nhở một trang sử oanh liệt.”(Thái Văn Kiểm, tr.3)

Đã gọi là “trang sử oanh liệt” thì người dân nào lại không lấy làm hãnh diện về sự nghiệp giữ nước của tổ tiên mình, huống chi đối với tôi, là người địa phương, nơi diễn ra chiến tích đó. Phải tìm hiểu thì hãnh diện mới có căn chứ. Nhưng…vậy mà không phải vậy.


Thời Tự Đức, Pháp đánh Huế mấy lần?

Nước Pháp liên minh với Tây Ban Nha, mở đầu cuộc xâm lăng Việt Nam lần đầu tiên vào ngày 1/9/1858 tại Đà Nẵng, dưới thời vua Tự Đức (trị vì :1847-1883). Năm 1862, sau khi mất ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường), triều đình Huế phải ký Hòa ước Nhâm Tuất, nhường ba tỉnh đã mất cho Pháp. Từ đó cho đến khi băng hà vào năm 1883, vua Tự Đức còn ký thêm một hòa ước nữa, đánh dấu thêm một bước thụt lùi của nền độc lập. Đó là Hòa ước Giáp Tuất ký năm 1874, sau khi thất thủ thành Hà Nội lần thứ nhất vào năm 1873, tướng thủ thành là Nguyễn Tri Phương bị thương, bị bắt nhưng đã can trường nhịn đói chịu đau mà chết; thêm vào đó lại mất thêm mấy tỉnh miền trung du.
Lịch sử cho thấy trong suốt thời gian vua Tự Đức trị vì, quân Pháp chưa bao giờ tấn công Huế - ngay cả tấn công cửa Thuận An, cổng ngỏ vào Huế, cũng chưa, nói chi tới việc quân Pháp vô trong kinh thành, rồi tiến lên đàn Xã Tắc giữa hai hàng mù-u để rồi bị phục binh của ta đánh giết!
Nhà Nguyễn lập ra đàn Nam Giao để tế Trời, (Hiệu Thiên Thượng Đế) lập ra đàn Xã Tắc để tế thần Đất. (Hai chữ xã-tắc cũng chỉ về đất nước, sơn hà xã tắc). Vì vậy, thuở xa xưa bên Tàu, hễ chiếm được đàn xã tắc của nước nào có nghĩa là làm chủ được nước đó, nhưng đến thời Tây qua xâm lăng Việt Nam thì đâu có cần làm vậy. Tây không cần chiếm đàn Xã Tắc hay đàn Nam Giao, lại còn ủng hộ việc tế đàn Nam Giao, đàn Xã Tắc, mà Việt Nam vẫn bị mất nước non cả trăm năm! Đàn Xã tắc chưa bao giờ là một mục tiêu quân sự trong suốt quá trình xâm lăng của Pháp ở Việt Nam.

Có hay không trận mù-u? Một chút lịch sử

Vậy thì không có trận mù-u?
Có chứ. Nhưng không phải như Hương Giang Thái Văn Kiểm đã dẫn. Nó thuộc về một biến cố khác, không ở dưới thời vua Tự Đức, mà cũng không dính líu gì đến đàn Xã Tắc. Nó là một phần nhỏ trong biến cố thất thủ kinh đô năm Ất Dậu, 1885, thời vua Hàm Nghi (1884-1885). Tôi xin trích của Trần Trọng Kim môt đoạn sử sau đây để bạn đọc có chút ý niệm về biến cố:

“ [1884] Nhưng ở các nơi, những quan cũ ta còn chống nhau với quân Pháp, mà ở Huế thì Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết chuyên chế đủ mọi đường. Tháng 9 năm Giáp Thân (1885), hai ông ấy đem ông Dục Đức [thân phụ vua Thành Thái] giam vào nhà tối, không cho ăn uống để chết đói, đổ tội cho là thông mưu với giặc. Hai ông ấy lại mộ quân tập lính và lập đồn Tân Sở ở gần Cam Lộ thuộc tỉnh Quảng Trị, đem đồ báu ngọc vàng bạc ra đấy, phòng khi có việc gì thì đem quân ra đó để chống nhau với quân Pháp. Cũng vì các ông ấy có ý muốn kháng cự, cho nên quân Pháp đã chiếm giữ Mang Cá ở thành Huế và lại bắt bỏ súng đại bác ở trên thành đi.
Ngày 18 tháng 4 năm Ất Dậu (1885), thống tướng De Courcy sang tới Bắc kỳ. Bấy giờ sự hòa ước với Tàu đã xong, bởi vậy thống tướng mới định vào Huế bắt Triều đình ta phải chịu quyền bảo hộ. Thống tướng đến Hà Nội đã nói chuyện với các người Pháp và những người Nam ra làm quan với Pháp, đã biết tình hình ở trong Huế là thế nào. Đến ngày 19 tháng 5 thì thống tướng đem non 500 quân đi tàu vào Huế. Triều đình cử hai quan đại thần theo viên Khâm sứ Pháp là ông De Champeaux ra đón thống tướng ở cửa Thuận An. Sáng hôm sau, thống tướng cho đòi hai quan phụ chính sang bên Khâm sứ để định việc vào yết kiến vua Hàm Nghi.
Hai ông ấy lúc bấy giờ còn đang lừng lẫy, việc Triều chính ở trong tay mình cả, mà thấy thống tướng làm sự đường đột như thế, cũng đã tức giận lắm…Ông Tường thì là một tay giao thiệp giỏi, lại có nhiều mưu cơ và tài nghề ứng biến, cho nên lúc ấy chỉ có một mình ông Tường sang ra mắt quan thống tướng De Courcy mà thôi, còn ông Thuyết thì cáo bệnh không sang.Thống tướng thấy vậy, bảo đau cũng phải khiêng sang.Tôn Thất Thuyết thấy quan Pháp ra oai như thế, phần thì tức giận, phần thì sợ, lại nhân lúc bấy giờ mới có điềm động đất, mới nghĩ bụng rằng đấy là điềm trời xui khiến bèn quyết ý sửa soạn để đánh nhau.
Thống tướng De Courcy định đến hôm vào điện yết kiến vua Hàm Nghi, thì phải mở cửa chính, không những chỉ để quan nước Pháp đi mà thôi, nhưng lại phải để cả quân lính cùng đi vào cửa ấy. Triều đình thấy điều ấy trái với quốc lễ, xin để thống tướng đi cửa giữa, theo như sứ Tàu ngày trước, còn quân lính thì xin đi cửa hai bên, thống tướng nhất định không
chịu.

…Trưa hôm 22 các quan ở CơMật Viện sang Khâm sứ xin vào bàn định cho xong việc đi cửa chính, cửa bên, nhưng thống tướng De Courcy không tiếp. Bà Từ Dụ Thái Hậu sai quan đem đồ lễ vật sang tặng thống tướng, thống tướng cũng khước đi không nhận. Các quan thấy thống tướng làm dữ dội như vậy, đều ngơ ngác không hiểu ra ý tứ gì mà khinh mạn Triều đình đến như thế. Tôn Thất Thuyết càng thấy thế càng lấy làm tức giận, thôi thì sống chết cũng liều một trận, họa may trời có giúp kẻ yếu hèn gì chăng? Ấy là lúc tướng sĩ lúc bấy giờ ai cũng tưởng như thế, cho nên mới định đến nửa đêm khởi sự phát súng bắn sang Khâm sứ và đánh trại lính của Pháp ở Mang Cá [VHA nhấn mạnh]
Chiều hôm ấy thống tướng làm tiệc đãi các quan Pháp. Tiệc vừa tan xong, thì súng ở trong thành nổ ra đùng đùng, rồi những nhà ở chung quanh dinh Khâm sứ cháy, lửa đỏ rực trời. Quân Pháp thấy bất thình lình nửa đêm quân ta đánh phá như vậy, chưa biết ra thế nào, chỉ yên lặng mà chống giữ. Đến sáng ngày 23 [4/7/1885] mới tiến lên đánh, thì quân ta thua chạy.”

Quân Pháp phản công bằng hai mũi: mũi thứ nhất, phát xuất từ Mang Cá; mũi thứ hai từ Tòa Khâm, băng qua sông Hương. Cả hai mũi đều nhắm Đại Nội làm mục tiêu. Khoảng 7 giở rưỡi sáng, vua Hàm Nghi và tam cung lục viện thoát ra Đại Nội bằng cửa Chương Đức ở phía tây, rồi sau đó ra khỏi kinh thành bằng Cửa Hữu, bắt đầu một cuộc hành trình đầy gian nan. Tám giờ sáng, quân Pháp treo cờ trên Kỳ đài trước Ngọ Môn, họ hoàn toàn làm chủ kinh đô và họ không đụng gì đến đàn Xã Tắc.

Nhân chứng hiếm hoi của trận mù-u
Sử ghi vắn tắt về biến cố Ất Dậu, thì làm sao biết được mù-u đã được sử dụng ở đâu và khi nào? Ngày nay, khó ai trả lời được câu hỏi này nếu tác giả Lô Giang Tiểu Sử đã không chịu khó ghi lại đôi dòng cho con cháu trong nhà. Lô Giang Tiểu Sử là hồi ký của cụ Thượng thư hưu trí Nguyễn Văn Mại, hiệu Tiểu Cao, viết bằng chữ Nho, đã được con trai là ông Nguyễn Hy Xước dịch ra Việt ngữ năm 1947, in ronéo, lưu hành nội bộ gia đình. Một vài thân hữu của gia đình may mắn được đọc hồi ký này, đã nhận ra rằng ngoài chuyện cũ của cá nhân và gia đình được ghi lại, Lô Giang Tiểu Sử còn là một nguồn sử liệu hữu ích vì chứa đựng nhiều chi tiết liên quan tới lịch sử Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX; vì vậy, bản phóng ảnh Lô Giang Tiểu Sử cũng được lưu hành giữa một số người nghiên cứu sử xuất thân từ Huế. Cụ Tiểu Cao đỗ Phó bảng khoa thi Hội năm Ất Dậu (1885). Ngày 15 tháng Năm (âm lịch) vào thi Đình, đang chờ kết quả thì xảy ra biến cố thất thủ kinh đô vào sáng ngày 23 tháng Năm, Ất Dậu (4/7/1885).
Xin mời bạn đọc vui lòng xem bản đồ in kèm bài này để nắm vững những địa danh được nói đến, để thấy sự việc rõ hơn.
Ngay từ ngày 22 tháng 5, cống sĩ Nguyễn Văn Mại đã ghi nhận rằng :
“Lúc đó, ta vào thi Đình xong, cùng với anh Trần Đào Tiềm đến Bộ Lễ để chờ kết quả kỳ thi, thì thấy trong thành [kinh thành], từ Trấn Bình Đài [Mang Cá] cho đến Lục Bộ, hai bên đường đều đào hào, lính các trại đều mang gươm súng sẵn sàng, trước các trại lính đều chất đầy những thùng chứa cột chuối để phòng bị. Hai bên đường từ Trấn Bình Đài mà ra chất đầy những đống trái bàng và mù - u ”(VHA nhấn mạnh) (tr. 35)
…“ 7 giờ đêm hôm ấy, trước khi giao chiến thì Tôn Thất Thuyết mật phái một toán quân đến vây Tòa Sứ, còn quân lính trong thành đều chủ lực về mặt bắc Trấn Bình Đài, và để lại trại không. Đến giờ bắt đầu giao chiến, quân ta bắn trước mà quân Pháp chỉ bắn trả mà thôi… Trong thành, quân ta bắn tiếp vào Trấn Bình Đài từ 8 giờ đêm cho tới 1 giờ sáng, nghe trong đài ít bắn ra, quân ta áp vào và la to: đã áp vào Trấn Bình Đài rồi. Tiếng la như sấm. Không ngờ khi quân ta bắn thì quân Pháp đều núp xuống hầm để đợi, chỉ thỉnh thoảng bắn trả ít thôi. Đến 3 giờ sáng quân Pháp nghe chừng quân ta bắn sưa ra và sắp áp vào Trấn Bình Đài thì họ vùng dậy bắn cả một loạt, quân ta thuốc đạn ít, không địch nổi, đua nhau mà chạy, quân Pháp đuổi theo và bắn chỉ thiên.”
“Quân ta nghe tiếng súng không biết ngã nào, đạp nhau mà chết trong hào hoặc giữa đường, người trước bước trên mù-u té ngã, người sau đạp lên mà chết hàng ngàn. Trước kia đào hào, rải mù-u lên đường, chủ ý là để hại quân Pháp, mà hóa ra làm hại quân ta. Tại các cửa thành, trai gái già trẻ, người mang của, kẻ bế con, tranh nhau mà ra, người trước ngã, người sau đạp lên, thây liệt đầy đường…” (tr. 35-36)

Những dòng vắn tắt của Tiểu Cao đã làm sáng tỏ những điểm sau:
- Quả thật có trận mù –u xảy ra vào đêm 22 rạng ngày 23/5 Ất Dậu, 1885;
- Nơi chiến trận xảy ra là quãng đường từ Mang Cá đến Đại Nội (đường Đinh Tiên Hoàng ngày nay) đoạn gần Mang Cá. Không dính gì đến Xã Tắc.
- Trong trận này, quân Việt không những dùng mù-u mà còn dùng cả trái bàng như một phương tiện hỗ trợ hành quân chiến đấu để hại quân Pháp .
Mù-u và trái bàng không hại được quân Pháp mà chỉ làm hại quân Việt vì lính Pháp đi giày đinh, đạp nát mu-u và trái bàng dễ dàng, còn quân dân Việt thì đi chân đất ,đạp nhằm mù u và trái bàng, té ngã, bị dẫm đạp mà chết, chưa nói chi tới tên bay đạn lạc. Tất cả ngoài dự liệu của các quan tướng. Rõ ràng là không có một chiến thắng vinh quang nào như đã được kể lại theo truyền thuyết.

Ngó vô Xã Tắc hai hàng mù-u nghĩa là sao?

Khi đã biết sự thật như đã trình bày thì có thể thấy được rằng giải thich về ý nghĩa của câu hát dân gian Ngó vô Xã Tắc hai hàng mù-u như Hương Giang Thái Văn Kiểm đã viết là nặng phần tưởng tượng hơn thực tế đã diễn ra.
Vậy thì toàn bộ câu hát chỉ là những câu tả cảnh thôi sao? Rất có thể.

Văn Thánh tức Văn Miếu, xây dựng vào năm Gia Long thứ 7 (1808), thờ Khổng Tử và các danh Nho. Khuôn viên trồng đầy thông.
Võ Thánh tức Võ Miếu, xây dựng năm Minh Mạng thứ 16 (1835), thờ Khương Tử Nha và các danh tướng Trung Hoa và Việt Nam. Trong khuôn viên miếu này người ta trồng cây bàng. Cả hai miếu đều nằm về tả ngạn sông Hương, cách chùa Thiên Mụ về phía tây không bao xa.
Trong khi đó, đàn Xã Tắc lại đặt trong Kinh thành, bên phía tay phải của Đại Nội, trên đường Trần Nguyên Hãn ngày nay, xưa gọi là đường Xã Tắc. Đàn này lập ra năm Gia Long thứ 5 (1806) để thờ các thần chủ về đất đai (Thái Xã Thần) và mùa màng (Thái Tắc Thần). Trong một nước lấy nông nghiệp làm gốc thì đất đai và mùa màng là sự sống còn của quốc gia. Trong khuôn viên Xã Tắc người ta trồng ba thứ cây, là thông, xoài và mù-u. Con đường đi vào Xã Tắc cũng trồng mù-u nên mới có câu hát trên.
Ta hãy xem người xưa đánh giá ba loại cây này như thế nào. Đại Nam Nhất Thống Chí chép:
-Tùng (thông): Bản Thảo nói rằng tùng là đàn anh trong các loài mộc, cho nên viết theo chữ công, lại nói tùng già thì dư khí kết thành phục linh một nghìn năm thì nhựa nó kết thành hổ phách. Nay ở đàn Nam Giao, các sơn lăng, núi Ngự Bình các nơi thông mọc thành rừng…(tr.352)
- Cây mù-u: Nam mai, hoa như hoa mai trắng, quả tròn như ngón chân cái, ép dầu, trị vết đao thương, thắp đèn kiến gián không ăn. Cây cong queo bền chắc, nhà nước hay trồng để dùng làm tay cong và bánh lái ở thuyền.(tr.360)
-Cây bàng: Sơn phong, thân cây cao lớn, cành lá mọc thành tầng, hình vòng tròn như hình tán lọng; sau tiết sương giáng lá biến thành sắc đỏ, như lá cây phong, nên gọi là sơn phong. Nay trồng nhiều ở các cung điện, phủ, thự (tr.365)

Khi nghe câu hát:
Văn Thánh trồng thông,
Võ Thánh trồng bàng,
Ngó vô Xã Tắc hai hàng mù-u
Tôi có hỏi Thầy tôi, tức bố tôi, tại sao lại trồng mấy thứ cây đó mà không trồng thứ khác? Ông cụ đủng đỉnh trả lởi:
- Đền miếu, cung điện hay chùa chiền phải trồng cây và phải lựa thứ thích hợp để trồng thì cảnh quang mới đẹp đẽ trang nghiêm. Ở đây , các cụ xưa lại muốn chơi chữ. Văn Miếu là nơi văn học thì phải tinh thông nghĩa lý văn chương sách vở, nên trồng thông để ngụ ý nhắc nhở người đi học. Còn võ miếu là nơi tượng trưng cho việc dụng binh thì phải luận bàn kế hoạch cho chu đáo nên trồng bàng. Riêng Xã Tắc là nơi giao tiếp với đất trời, mà thiên địa mịt mù nên mượn mù-u để tượng trưng.

Tôi phải cảm ơn Thầy tôi, đã giải thích điều này, ít nhiều cũng có lý, và không làm méo mó lịch sử. Đúng hay sai, tùy bạn đọc thẩm định, và nếu được nghe một kiến giải khác hợp lý hơn, ý nghĩa hơn, thì thật là quí báu vô cùng. Riêng tôi, thấy trong hướng giải thích này nổi rõ cái phong vị Huế trong việc chơi chữ. Người Huế phát âm không chuẩn như người Bắc. Không phân biệt các âm hỏi, ngã (ví dụ: nghĩ ngợi và nghỉ ngơi); không phân biệt các âm cuối có g hay không g, vì vậy mới dám “cả gan” cho “luận bàn” nghe không khác “cây bàng”!
Còn tại sao người ta trồng xoài cùng với thông và mù-u trong khu Xã tắc? Khi theo bạn bè “thám hiểm ”, tôi không thấy cây xoài, có lẽ đã chết tiêu đâu mất, vì là cây ăn quả nên dễ bị hại. Bởi vậy tôi không biết để đem ra hỏi Thầy tôi. Khi lớn lên, đọc Đại Nam Nhất Thống Chí, mới biết đàn Xã Tắc có trồng xoài như một lại cây chính thức, thì không biết hỏi ai nữa. Lúc rảnh , rỉ rả đọc lại ĐNNTC, mục Thổ sản, mới thấy lý do tại sao các cụ xưa lại chọn cây xoài để trồng nơi này. Sách này xếp quả xoài là một “phẩm quí ở phương Nam”. Và ghi nhận: “Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quí Đôn chép rằng : Tục truyền năm nào xoài sai quả thì ngũ cốc mất mùa, xoài ít quả thì ngũ cốc được mùa. Ứng với thời tiết cũng có nghiệm.” (tr.301). Hèn gì! Xã Tắc là nơi thờ thần chủ về đất đai mùa màng. Muốn biết về mùa màng trong năm được hay mất mà đem ra hỏi thần cũng khó, chi bằng trồng cây xoài, cứ trông quả nhiều quả ít thì biết. Cây xoài trở thành khí cụ dự báo mùa màng của triều đình!

VÕ HƯƠNG-AN
01/2008

Tài liệu tham khảo
-Thái Văn Kiểm, Cố đô Huế, Nha Văn Hoá Bộ QGGD, Saigon, 1960, bản in lại ở Mỹ không đề năm
-Tiểu Cao Nguyễn Văn Mại, Lô Giang Tiểu sử, bản dịch của Nguyễn Hy Xước, bản in ronéo, lưu hành gia đình.
-Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí, bản dịch Viện Sử Học, Tập I, nxb Thuận Hóa, 1997

mercredi 23 décembre 2009

THƯƠNG TÌNH CA




Dìu nhau đi trên phố vắng
Dìu nhau đi trong ánh sáng
Dắt hồn về giấc mơ vàng, nhẹ nhàng
Dìu nhau đi chung một niềm thương.
Nhịp chân êm êm thánh thót
Đừng cho trăng tan dưới gót
Chớ để mộng vỡ mơ tàn, dịu dàng
Đừng cho không gian đụng thời gian.
Đưa nhau vào cõi vô biên
Có chim uyên tình thiêng
Hát ru êm triền miên
Đưa nhau vào chốn không tên, mặc đời quên
Không bến, không thuyền, hết câu nguyền.
Dìu nhau sang bên kia thế giới
Dìu nhau nương thân ven chín suối
Dắt dìu về tới xa vời, đời đời
Dìu nhau đưa nhau vào ngàn thu.



Phạm Duy