jeudi 14 août 2014

LE SOLEIL ROUGE



Tel le cœur qui apporte l’amour de la vie humaine
Mêlé à l’âme poétique imprégnées de lueurs solaires
Les fleurs pensives de senteurs du monde pleines
Ont bien des fois repêché l’homme en mer de misère.

Les fleurs éblouissent aux rayons resplendissants
La verdure se rafraîchit sous le matinal soleil
Déjà le cœur est troublé tout en se taisant
Ciel et terre plongés dans un air sublime sans pareil.

Ô confident, après une seule rencontre en vie,
Les choses terrestres ne reflètent que le néant à nos yeux
Sans rien dire, des regards et un sourire, ça suffit
À ouvrir la voie d’accès au monde religieux.

Buvons le verre d’un amour éternel jusqu’à la lie
Réunis en demeure finale à l’accueil des flots
Le cœur s’ouvre au monde plein de soucis
Dédions aux gens de toutes parts la poésie sans mots.


Traduction de THÂN TRỌNG SƠN.



MẶT TRỜI HỒNG


Như trái tim đem tình yêu sự sống
Quyện hồn thơ thắm đượm ánh dương hồng
Hoa tư tưởng ngát hương trần duyên kiếp
Đã bao lần tỉnh ngộ kẻ trầm luân.

Ngàn hoa nở nhuốm ánh hồng rực rỡ
Cỏ xanh tươi nhờ tắm nắng dương mai
Nói gì đâu, sao rộn lòng muôn thuở
Khí hạo nhiên tô thắm cả đất trời.

Ôi ! tri kỷ chỉ một lần tri ngộ
Gặp bên đời thấy trần mộng hư vô
Nói chi mô, chỉ nhìn nhau vừa đủ
Khẽ mỉm cười thông suốt cõi nam mô.

Uống cạn chén thiên thu tình miên viễn
Gọi trùng dương về hội ngộ chân thường
Tâm rộng mở, thương cõi đời u uẩn
Thơ khôn lời trao gởi khắp muôn phương.


DUY VIỆT


jeudi 17 juillet 2014

THƠ JAROSLAV SEIFERT



  THƠ JAROSLAV SEIFERT
Nhà thơ người Czech (1901-1986)
Giải thưởng Nobel Văn học 1984




Cuộc đời Jaroslav Seifert kéo dài hơn 3/4 thế kỷ XX trên một đất nước trải qua nhiều chế độ chính trị khác nhau: Đế quốc Áo Hung ( đến 1918 ), Cộng hoà Tiệp Khắc ( 1918 - 1960 ), Cộng Hoà XHCN Tiệp Khắc ( 1960 - 1990 ), Cộng Hoà Liên Bang Tiệp Khắc ( 1990 - 1992 ), Cộng Hoà Séc - Czech ( từ 1-1-1993 ).
Tuy khởi nghiệp là một nhà báo, Jaroslav Seifert đã sớm từ bỏ lĩnh vực báo chí để chú tâm vào thơ ca. Từ khuynh hướng siêu thực ban đầu, ông chuyển dần sang nội dung thời sự, chính trị, chọn thái độ phản kháng, chống lại những chính sách độc tài, hạn chế tự do. Hội Nhà Văn Tiệp Khắc ( mà ông là chủ tịch từ năm 1969 ) bị giải thể. Tác phẩm của Jaroslav Seifert bị cấm và chỉ được xuất bản dưới hình thức samizdat ( tự in ấn và phổ biến ) rồi được thế giới biết đến qua các bản dịch tiếng Anh xuất bản ở nước ngoài.
Một mảng lớn thơ ca của ông còn viết về những đề tài phi chính trị, ca ngợi tình yêu, hạnh phúc với những giá trị vĩnh cửu.
Năm 1984, Jaroslav Seifert được Viện Hàn Lâm Thuỵ Điển trao giải Nobel Văn học, vinh danh sự nghiệp " thơ ca chứa đầy sự tươi mới, nhạy cảm và giàu sáng tạo, biểu hiện một hình ảnh rõ ràng của tinh thần và sự đa dạng không thể khuất phục của con người ".

TTS

TỰ TRUYỆN

Thỉnh thoảng
Khi muốn nói về mình
Mẹ tôi thường kể:
Đời mẹ buồn và lặng lẽ
Mẹ luôn bước đi thật nhẹ
Nhưng lỡ khi tức giận
Và giậm mạnh chân,
Những chiếc tách, trước đây là của bà ngoại,
Kêu leng keng trên chạn bát dĩa,
Và khiến mẹ cười.

Khi tôi sinh ra, tôi nghe kể thế,
Một con bướm bay vào qua cửa sổ
Và đậu ở đầu giường mẹ tôi,
Nhưng đồng thời có tiếng chó tru ngoài sân.
Mẹ tôi nghĩ rằng
Đó là điềm xấu.

Đời tôi hẳn là không hoàn toàn êm ả
Như đời của mẹ
Nhưng ngay cả khi tôi nhìn vào tháng ngày hiện tại
Một cách buồn bã
Như trong những khung ảnh rỗng không
Và những gì tôi thấy là một bức tường bụi bặm
Cuộc đời trước sau vẫn tươi đẹp vô cùng.

Có nhiều khoảnh khắc
Tôi không thể nào quên
Những khoảnh khắc tựa những bông hoa rực rỡ
Với đủ mọi sắc màu,
Những buổi chiều đậm ngát hương thơm
Như những trái nho đỏ tía
ẩn dưới chùm lá bóng đêm.

Tôi đã say mê đọc thơ
Say mê yêu nhạc
Và bao giờ cũng ngỡ ngàng, tôi mày mò
Từ vẻ đẹp này sang vẻ đẹp khác
Nhưng khi lần đầu tiên nhìn thấy
ảnh một phụ nữ khỏa thân
tôi bắt đầu tin ở những phép mầu.

Cuộc đời tôi qua mau
Cuộc đời quá ngắn
Cho những khát vọng lớn lao của tôi,
Những khát vọng không cùng,
Trước khi tôi nhận ra,
Ngày tàn cuộc đời đã đến gần.

Rồi cái chết sẽ đạp cửa nhà tôi
Và bước vào
Thảng thốt kinh hoàng tôi phải nín hơi
Và quên cả hít thở.

Mong sao tôi không bị khước từ cái thời khắc
Được thêm một lần hôn đôi tay
Của người đã nhẫn nại và đều bước cùng tôi
Đi tiếp đi tiếp rồi đi tiếp
Và là người đã yêu hơn hết thảy.
( Autobiography )
LÀM THI SĨ

Từ lâu cuộc sống đã dạy tôi
Rằng âm nhạc và thơ ca
Là những điều đẹp nhất thế gian
Mà cuộc đời có thể đem lại cho ta
Ngoại trừ tình yêu, tất nhiên.

Trong một sách giáo khoa cổ
Do nhà in Hoàng đế ấn hành
Vào năm nhà thơ Vrchlicky qua đời
Tôi tìm chương nói về thơ ca
Và thi pháp.

Rồi tôi bỏ một bông hồng trong chiếc cốc
Đốt ngọn nến
Và bắt đầu viết những câu thơ đầu tiên.

Hãy cháy lên, ngọn lửa của ngôn từ,
Và nổi bùng lên,
Cho dù ngón tay ta bỏng cháy.

Một ẩn dụ bất ngờ có giá trị hơn
Chiếc nhẫn đeo nơi ngón tay
Nhưng ngay cả Tự điển Gieo vần của Puchmajer
Với tôi cũng chẳng có ích gì mấy.

Tôi hoài công chọn lời tìm ý
Và cố ý nhắm nghiền đôi mắt
Để nghe cho được dòng thơ đầu tiên
Nhưng rồi trong bóng tối, thay vì ngôn ngữ,
Tôi chỉ thấy nụ cười của một phụ nữ
Và mái tóc theo gió tung bay.

Đấy hẳn là số phận của tôi
Mà tôi đã đeo đẳng suốt cuộc đời
Không mỏi mệt.
( To be a poet )

BÀI CA

Người vẫy chiếc khăn quàng trắng
và nói lời giã từ
Mỗi ngày một điều gì đó chấm dứt
Một điều gì đó tuyệt vời chấm dứt.

Bồ câu đưa thư đập cánh vào không trung
Trên đường bay trở về;
Tuyệt vọng hay mong ngóng,
Bao giờ chúng ta cũng quay lại nhà.

Hãy lau nước mắt đi,
Và hãy cười bằng đôi mắt đẫm lệ.
Mỗi ngày một điều gì đó khởi đầu
Một điều gì đó tuyệt vời khởi đầu.

( Chanson )

BÀI CA CÁC THIẾU NỮ

Một con sông dài chảy qua thành phố
Hai bờ nối kết bằng bảy chiếc cầu
Ngàn cô gái đẹp dạo trên bến cảng
Tất cả các cô đều khác hẳn nhau.

Hòa nhịp đôi tim để sưởi ấm bàn tay
Trong ánh sáng của một tình yêu nóng bỏng
Ngàn cô gái đẹp dạo trên bến cảng
Tất cả các cô đều giống hệt nhau.

( Chanson des jeunes filles )


BÀI THƠ TÌM THẤY TRÊN TẤM THẢM TREO TƯỜNG

Thành phố Prague,
Với người đã trông thấy một lần
Cái tên này sẽ ngân mãi
Trong tim
Thành phố là một bài ca quyện theo dòng năm tháng
Chúng ta vẫn mến yêu
Sao cho bài ca vẫn vang lên.

Hạnh phúc thay, những giấc mơ đầu tiên của tôi
Vẫn ngời sáng như những chiếc dĩa bay
Trên các mái nhà của thành phố
Để rồi sau đó biến mất chẳng biết nơi đâu
Từ thời tôi còn trẻ.

Có một lần tôi áp má
Vào khối đá của bức tường cổ
ở đâu đó bên dưới sân Lâu đài
bỗng tôi nghe vọng lại
một tiếng gầm thét thảm sầu
Đấy là tiếng sấm sét từ những thế kỷ xa xăm
Thế nhưng phiến đá, ấm áp và dịu dàng,
Của ngọn Bạch Sơn
Vẫn thì thầm bên tai tôi.

Hãy đi tới! và sẽ thấy ngạc nhiên
Hãy cất tiếng ca! và biết đang hát cho ai
Nhưng đừng nói dối.

Tôi đi tới và tôi không nói dối.
Chỉ trừ với các bạn, những người tôi yêu ơi,
Chỉ một chút thôi.

( Poème trouvé sur une tapisserie )



BÀI CA VỀ TUỔI THƠ

Này các cậu bé, hãy cho tôi chút đất sét
Tôi muốn cùng các cậu đắp một cái đập
Khỏi nhìn chiếc đồng hồ quả lắc
Khỏi nghe tiếng thời gian trôi qua
Và muốn lội trong dòng suối giá buốt
Mà không hề rét cóng tay chân
Và vẫn còn nhìn thấy trước mặt
Con đường đời dài và đẹp vô cùng

( Chanson sur l'enfance)

NĂM 1934

Thật ngọt ngào khi nhớ lại
Hạnh phúc của tuổi thanh xuân
Chỉ dòng sông không có tuổi
Cối xay gió thôi không hoạt động
Ngọn gió thất thường vẫn thổi, dửng dưng.
Chỉ còn cây thánh giá ở ngã tư đường
Một vòng hoa xa cúc như chiếc tổ không có chim non
Trên vai Chúa Ki tô
Và làn sương như lời báng bổ giữa đám lau lách.

Hãy thương xót chúng tôi
Thời kỳ cay đắng đã tới
Trên bờ những dòng sông êm dịu
Đã hai năm rồi nhà máy bỏ hoang
Và trẻ con học lời đói khát
Trên gối những bà mẹ.

Vậy mà tiếng cười của chúng vẫn ngân vang
Dưới cõi thinh lặng buồn rầu tang tóc
Trong ánh bạc.

Miễn là điều đó sẽ đem lại cho chúng
Một tuổi già hạnh phúc hơn nhiều
So với tuổi thơ chúng tôi đã cho chúng.

( L’année 1934 )

NẾU VỚI BẠN CÂU THƠ CŨNG LÀ ĐIỆU HÁT

Nếu với bạn câu thơ cũng là điệu hát
- như người ta nói-
Tôi đã hát ca suốt cả đời
Tôi đã đến với những người trong tay không có gì
Và sống cuộc đời qua ngày đoạn tháng
Tôi nhập bọn với họ. Tôi hát về nỗi đau
Về tín ngưỡng, đức tin của họ,
Và tôi sống với họ tất cả những gì
Họ đang trải nghiệm. Ngay cả nỗi bồn chồn,
Yếu đuối, sợ hãi, dũng khí,
Ngay cả nỗi buồn của người khốn khó.
Và dòng máu của họ, khi tuôn chảy,
Đã tung tóe vào người tôi. Máu đã chảy nhiều rồi
Trên quê hương ngọt ngào của sông nước, cỏ cây, hoa bướm
Và của những phụ nữ say đắm.

Tôi cũng đã ngợi ca những phụ nữ.
Yêu đương mù quáng
Tôi lảo đảo bước đi dọc đường đời
Vấp ngã trên một cánh hoa lạc lõng
Hay trên bậc cấp ngôi giáo đường.

(Si pour vous les vers sont aussi un chant...)

CHIẾN ĐẤU VỚI THIÊN THẦN

Trời mới biết ai đã nghĩ ra
Cái hình ảnh u sầu đó
Và nói về người đã chết
Như những chiếc bóng sống động
Đi lang thang giữa chúng ta.
Vậy mà những chiếc bóng ấy vẫn có thực ở nơi đây
Bạn không thể không nhận ra chúng
Bao nhiêu năm qua tôi đã tập hợp quanh mình
Khá nhiều chiếc bóng
Nhưng ở giữa chúng
Chính tôi là kẻ lang thang.
Những chiếc bóng tối tăm
Và lặng thinh giữ nhịp
Theo sự thinh lặng của tôi
Khi chiều dần xuống
Và tôi cô đơn.
Thỉnh thoảng chúng ngăn chặn ngòi bút của tôi
Khi tôi không đúng
Và xua tan một ý nghĩ xấu xa
Làm cho đau đớn.
Vài chiếc bóng lại lờ mờ
Và phai nhạt
Tôi không còn nhìn thấy ở đằng xa
Nhưng có một chiếc bóng màu hồng
Và rơi nước mắt.

Trong cuộc đời mọi người
Cũng có lúc
Mọi vật bỗng tối đen trước mắt
Con người thiết tha mong ước
Được ôm trong tay một cái đầu tươi cười
Con tim muốn được nối kết
Với một con tim khác
Dẫu là bằng những mối chỉ khâu
Và đôi môi chẳng mong muốn gì hơn
Được chạm vào nơi
Con quạ nửa khuya đã đậu trên người nữ thần Pallas Athena
Khi chẳng được mời nó vẫn bay đến thăm
Nhà thơ sầu muộn.Điều đó được gọi là tình yêu
Thôi cũng được
Có lẽ là tình yêu thật
Có điều là hiếm khi nó bền lâu
Nói gì chuyện yêu cho đến chết
Như trường hợp những con thiên nga
Thường thì những cuộc tình nối tiếp nhau
Như những chuỗi quân bài nắm trong tay.
Có khi đó chỉ là cái rung động khoái cảm
Thường kéo dài và cay đắng
Có khi chỉ là tiếng thở dài và nước mắt
Và lại có khi là nỗi chán chường
Đó là điều buồn nhất.
Đã có một lần tôi nhìn thấy một bóng hồng
Đứng trước cổng một ngôi nhà
Đối diện với nhà ga Prague
Lúc nào cũng chìm trong làn khói.
Chúng tôi thường ngồi đấy, bên cửa sổ
Tôi nắm lấy đôi bàn tay mịn màng của nàng
Và nói lời yêu đương.
Chuyện như thế tôi rất tỏ tường.
Nàng mất đã lâu
Những ánh đèn đỏ nhấp nháy
Trên những đường rầy bên dưới.

Ngay khi cơn gió mới chớm nổi
Thổi bay đi bức màn tối
Những đường rầy sáng loáng lên
Như những sợi dây của chiếc dương cầm kỳ quái.

Thỉnh thoảng ta có thể nghe tiếng hơi nước rít lên
Và tiếng phì phò của đầu máy
Mang những khát vọng thảm hại của con người
Từ những sân ga bụi bẩn
Về những đích đến khác nhau
Thỉnh thoảng chúng cũng mang đi những người chết
Trở về nhà
Về các nghĩa trang.
Giờ tôi đã hiểu sao mà đau đớn thế
Khi rứt bàn tay khỏi một bàn tay
Một đôi môi khỏi một đôi môi khác
Khi những vết nối bị tách ra
Khi người kiểm soát đóng sập
Cánh cửa cuối cùng của toa xe.
Tình yêu là cuộc chiến đấu không ngừng với thiên thần
Từ sáng tới tối
Không khoan dung
Thường thì địch thủ luôn mạnh hơn
Nhưng thật khổ thân cho người nào
Không hề nhận biết
Rằng thiên thần của mình không hề có cánh
Và không hề ban phúc.

( Struggle with the angel )

CÁI ĐẦU CỦA ( PHO TƯỢNG ) THÁNH NỮ ĐỒNG TRINH MARIA

Đó là một thời khắc khác lạ trong năm.
Tôi mở cửa sổ,
những chiếc rèm kêu sột soạt
mùa thu đã đến rồi.
Vẫn đang còn óng mượt, với những giọt máu,
Và những vết buồn nhẹ loang

Đó là thời khắc mà những vết thương
Bắt đầu nhức nhối hơn.
Tôi đi thăm nhà thơ Vladimir Holan,
anh đang bệnh.

Anh ở gần chủng viện Lužice,có thể nói là bên trên dòng sông
Mặt trời vừa lặn sau những mái nhà
Con sông rì rầm khe khẽ
Và xáo những quân bài ẩm ướt
Cho cuộc chơi buổi tối.

Tôi vừa mới bước vào
Holan đã đột ngột gấp sách lại
Và, chừng như đang giận dữ, anh hỏi
Tôi có tin cuộc sống vẫn còn sau khi chết
Hay một thứ gì tệ hơn thế không.

Nhưng tôi không nghe lời anh nói
Trên chiếc tủ ngăn đặt bên cánh cửa
Tôi thoáng thấy khuôn đúc một cái đầu phụ nữ
Chúa ơi, tôi biết cái đầu này !
Nó nằm kia, mặt dính sát đất,
như dưới một máy chém.

Đấy là đầu Thánh nữ đồng trinh Maria
ở quảng trường Thành phố cổ.
Những người hành hương đã hạ nó xuống,
Cách đây sáu chục năm,
Khi từ Núi Trắng trở về.

Họ đã lật đổ cây trụ
Có bốn thiên thần vũ trang
Trên đó đặt pho tượng.
Cây trụ này cũng không thể cao bằng
Trụ Vendôme ở Paris.

Hãy tha thứ cho những người này
Tượng được dựng lên để đánh dấu sự thất bại
Và tủi hổ
Của dân tộc Tiệp
Và những người hành hương kia đang ngây ngất
Với những ngụm tự do đầu tiên.

Ngày ấy tôi có mặt ở đó cùng với họ
Và cái đầu của pho tượng bị gẫy
Lăn lóc trên lề đường
Gần chỗ tôi đứng
Khi nó dừng lại
Đôi mắt thành kính nhìn
Đôi giày bụi bặm của tôi.

Bây giờ, nó lại lăn về phía tôi
Thế là lần thứ hai,
Và giữa hai khoảnh khắc đó
Là gần như cả một đời người,
Chính là cuộc đời tôi.
Tôi không nói là cuộc đời hạnh phúc
Nhưng cũng đã đến đoạn kết rồi.

- Xin anh vui lòng nhắc lại cho tôi
Điều anh hỏi khi tôi vừa mới tới
Và xin tha lỗi cho tôi.

( La tête de la vierge Marie. )




NHỮNG ĐÔI KHUYÊN TAI BẰNG SAN HÔ

Tất cả những gì đã rời bỏ chúng ta
Và chìm sâu trong dĩ vãng
Dọc đường đánh mất một phần lớn
Bản chất của mình
Cái xấu nhạt nhòa, ta quên đi tội lỗi,
Rượu chua loét
Và những nụ hôn sững lặng dưới vòm trời
Biến thành bài ca.

Khi anh mơ về vòng tay của em
Anh sáng tạo những câu thơ
Anh dạo bước quanh phòng
Và ngâm nga bên khung cửa trống
Ôi, những câu thơ trầm bỗng!
Chúng chẳng quá cao siêu
Nhưng tràn đầy khát vọng chưa thỏa
Và ngôn từ đắm say.

Em ép lòng bàn tay trên miệng anh
Khiến anh phải im lặng
Và em hết sức che chắn
Đôi tai nhỏ nhắn sững sờ
Trong khi đầu lưỡi anh
Quấn quýt nơi đôi tai với những nếp nhăn hồng
Như trong một mê cung.

( Les boucles d’oreilles en corail )

ĐÔI KHI TA BỊ TRÓI BUỘC BỞI NHỮNG HỒI ỨC

Đôi khi ta bị trói buộc bởi những hồi ức
Và không có chiếc kéo nào có thể cắt
Những sợi chỉ dai bền
Hay những chiếc dây thừng!

Bạn có thấy cây cầu kia bên Căn nhà Nghệ sĩ?
Chỉ vài bước trước khi đến cầu
Cảnh sát bắn chết một công nhân
Đang bước đi ngay bên cạnh tôi.

Hồi đó tôi chỉ mới hai mươi
Nhưng bây giờ cứ mỗi lần đi qua chỗ đó
Hồi ức trở lại với tôi
Cầm lấy tay dẫn tôi cùng chung bước
Đến chiếc cổng nhỏ của nghĩa trang Do Thái
Nơi tôi đã chạy thoát
Khỏi loạt súng trường.

Năm tháng qua đi với bước chân mơ hồ, lảo đảo
Kéo tôi cùng đi theo.
Năm tháng vùn vụt trôi qua
Cho đến khi thời gian ngừng lại.

( Sometimes we are tied down by memories )

ĐOẠN RỜI MỘT LÁ THƯ

Mưa suốt đêm tạt vào cửa sổ
Không thể nào ngủ
Tôi trở dậy bật đèn
Ngồi viết một lá thư.

Nếu tình yêu có thể bay xa
Điều tất nhiên chẳng xảy ra
Và nó cũng không mấy khi ở gần mặt đất
Hẳn nó sẽ cảm thấy mê say được ấp ủ
Trong cơn gió nhẹ thoảng qua.

Nhưng giống như những con ong giận dữ
Dồn những chiếc hôn ghen tị
Trên cơ thể con ong cái ngọt ngào
Và một bàn tay nóng vội
Níu chặt những gì có thể với tới
Và lòng khao khát thì chẳng hề suy giảm
Ngay cả cái chết cũng có thể xảy ra
trong khoảnh khắc hân hoan
mà không hoảng sợ

Nhưng nào ai đã một lần tính được
Bao nhiêu yêu thương gởi gắm
Trong đôi vòng tay rộng mở.

Những lá thư gửi cho phụ nữ
Tôi vẫn chuyển qua cánh chim bồ câu
Ý thức tôi vẫn luôn sáng tỏ
Chẳng bao giờ nhờ cậy diều hâu
Và cũng không nhờ chim ó đâu!

Dưới ngòi bút tôi thơ không còn bay nhảy
Và như giọt lệ đọng lại nơi khóe mắt
Con chữ còn treo lại đàng sau.
Và cuộc đời tôi, đến thời kỳ cuối,
Giờ chỉ là chuyến hành trình hối hả trên con tàu:

Tôi đứng trong toa, bên cửa sổ
Ngày qua ngày
Chạy ngược về quãng thời gian qua
Để lẫn vào đám bụi mờ u sầu
Có nhiều lúc tôi bất lực nắm lấy
Cái phanh cấp cứu của con tàu.

Có lẽ sẽ thêm một lần tôi bắt gặp
Nụ cười một người phụ nữ,
Đọng lại nơi mí mắt
Như một cánh hoa héo hắt.
Có lẽ tôi sẽ còn được phép
Gởi đến đôi mắt nàng ít nhất là một nụ hôn
Trước khi chúng lạc mất trong bóng tối đen.

Có lẽ sẽ thêm một lần tôi nhìn thấy
Một mắt cá chân thon nhỏ
Nổi lên như viên ngọc
Toát ra vẻ dịu dàng ấm áp,
Khiến tôi gần như nghẹt thở vì khát khao.

Bao nhiêu điều con người đành bỏ lại phía sau
Khi chuyến tàu dửng dưng tiến lại gần
Ga Quên Lãng
Với khu vườn lan nhật quang lung linh mờ ảo
Trong hương hoa mọi thứ đều bị lãng quên
Kể cả tình yêu nhân thế.

Đây đã là ga cuối:
Con tàu không đi xa hơn.

VĨNH BIỆT

Với cả triệu vần thơ trên thế giới
Tôi chỉ góp dăm ba đoạn thêm vào
Có lẽ chúng chẳng hơn gì tiếng dế kêu
Tôi biết thế. Xin tha thứ. Tôi đang tới hồi kết.

Thơ tôi chẳng phải là những dấu chân đầu tiên
Trên lớp bụi mặt trăng
Nếu có khi những vần thơ kia toả sáng
Xét cho cùng chẳng phải ánh sáng của chúng đâu.
Tôi yêu ngôn ngữ này đã từ lâu.

Và điều thúc đẩy những đôi môi thầm lặng
Phải run rẩy
Sẽ khiến các cặp tình nhân trẻ hôn nhau
Khi họ rong ruổi các cánh đồng rực đỏ sắc màu
Của chiều tà đang xuống
Muộn hơn ở vùng nhiệt đới.

Thơ đã đến với chúng ta từ lúc khởi đầu
Như yêu thương
Như nạn đói, như bệnh dịch, như chiến tranh
Cũng có lúc thơ tôi ngây ngô vụng dại
Nhưng tôi cũng không thanh minh.
Tôi tin rằng lời hay ý đẹp
Tốt hơn nhiều so với tàn sát và huỷ diệt.

( And now good- bye )

Thơ JAROSLAV SEIFERT

THÂN TRỌNG SƠN dịch
Theo các bản tiếng Anh của Ewald Osers
và tiếng Pháp của Jean-Gaspard Páleníček .

Top of Form

Top of Form
Bottom of Form
Top of Form


Top of Form
Bottom of Form

samedi 14 juin 2014

ĐỨA BÉ



Truyện ngắn
ALBERTO MORAVIA
  

LỜI NGƯỜI DỊCH :

Alberto Moravia ( 1907-1990 ), nhà văn Ý. Căn bệnh lao xương mắc phải từ lúc mới lên 9  khiến Ông không thể tiếp tục đến trường học và chỉ trau dồi kiến thức bằng con đường tự học. Ông còn học tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, làm thơ bằng các ngôn ngữ này. Mười chín tuổi, Ông bắt đầu viết tiểu thuyết và ba năm sau,  tự bỏ tiền để xuất bản và nổi tiếng ngay với  tác phẩm  đầu  tay   này ( Những kẻ thờ ơ – Les Indifférents ). Những tiểu thuyết tiếp theo cũng được người đọc tán thưởng, trong số đó có cuốn đã được các đạo diễn lừng danh ( Vittorio De Sica, Jean-Luc Godard, Francesco Maselli ) chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh với các minh tinh tài tử hàng đầu : Gina Lollobrigida, Sophia Loren, Jean-Paul Belmondo, Brigitte Bardot . Alberto Moravia cũng thành công với các truyện ngắn, theo Ông, nghệ thuật của truyện ngắn “ tinh khiết hơn, cơ bản hơn, trữ tình hơn, cô đọng hơn và tuyệt đối hơn, so với tiểu thuyết”. 

Khi người phụ nữ ở Sở Cứu tế Thành phố Rome mang tiền cứu trợ đến cho chúng tôi, cả bà nữa cũng hỏi tại sao chúng tôi lại đẻ nhiều đến thế, và vợ tôi, hôm đó đang cáu gắt, nói huỵch toẹt : “ Nếu chúng tôi có tiền, tối tối chúng tôi sẽ đi xem phim…vì không có nên chúng tôi chỉ việc đi ngủ và cứ thế những đứa con ra đời.” Nghe vậy bà ta tỏ vẻ bất bình và bỏ đi không nói một lời.  Tôi trách vợ tôi bởi sự thật không phải bao giờ cũng nên nói ra, và cũng phải biết mình đang nói với ai nữa chứ.

Hồi còn trẻ, chưa lập gia đình, tôi thường giải trí bằng cách đọc tin tức trong báo chí Rome, thường đầy rẫy chuyện kể về những bất hạnh  xảy đến cho nhiều người: trộm cắp, giết người, tự tử, tai nạn giao thông, vân vân. Trong số những chuyện đó, duy nhất môt điều tôi nghĩ là sẽ không xảy đến cho mình, đấy là trở thành cái mà báo chí gọi là “một trường hợp thương tâm”, tức là hoàn cảnh một người gợi lên lòng thương hại không vì một sự bất hạnh nào đặc biệt, mà chỉ vì lý do là đang hiện hữu. Như  vừa nói, tôi còn trẻ, và tôi không hình dung ra việc nuôi nấng một gia đình đông đúc ra làm sao cả. Nhưng giờ này đây, tôi kinh hoàng nhận ra rằng dần dần mình đang trở thành một trong những “ trường hợp thương tâm” đó. Dạo đó, tôi đọc thấy, chẳng hạn : “ Họ sống trong cùng cực đói khổ…” Vậy mà, bây giờ đây, tôi cũng đang sống trong cùng cực đói khổ. Hoặc là : “ Họ ở trong cái nhà thực ra chỉ có tên gọi là nhà.”  Và, bây giờ tôi đang sống ở Tormarancio, cùng vợ và sáu đứa con, trong một căn phòng chỉ bằng diện tích một tấm nệm, và, mỗi khi trời mưa, nước đổ xuống như trên bến sông Ripetto.Tôi còn đọc thấy :  “Khi người phụ nữ khốn khổ biết mình đã có thai, bà ta đã quyết định một việc tội lỗi là hủy diệt kết quả của tình yêu của mình.” Vậy mà cái quyết định đó, vợ chồng tôi cũng đồng lòng khi khám phá ra rằng vợ tôi đang mang thai đứa con thứ bảy. Tóm lại, vợ chồng tôi quyết định là, ngay khi thời tiết thuận lợi, chúng tôi sẽ mang bỏ đứa bé trong một nhà thờ, trông chờ lòng từ thiện của người nào đầu tiên bắt gặp nó.

Cũng nhờ sự giúp đỡ của những phụ nữ tốt bụng ở Sở Cứu tế, vợ tôi đi sinh ở bệnh viện, và ngay khi mới khỏe trở lại, bà mang con về Tormarancio. Vừa mới tới căn phòng của chúng tôi, bà nói ngay: “Tuy bệnh viện vẫn chỉ là bệnh viện, tui vẫn thích ở lại đó hơn là về lại chỗ này.” Sau câu nói đó, đứa bé chừng như nghe hiểu khóc ré lên nhức nhối đến thủng màng nhĩ. Thằng nhóc sáng sủa, khỏe mạnh và tốt giọng đến nỗi đêm đêm thức giấc khóc thét lên là không ai ngủ được. 

Đến tháng năm, thời tiết bắt đầu ấm, có thể ra ngoài không cần áo khoác, chúng tôi rời Tormarancio để đi Rome. Vợ tôi ôm chặt đứa bé vào lòng, quấn đầy quần áo nhàu nát như thể sẽ đem bỏ nó giữa cánh đồng tuyết; khi ra đến thành phố, để khỏi để lộ sự đau lòng, bà nói luôn miệng, hổn hển, đứt hơi, tóc bay rối, mắt trợn ngược. Khi thì bà nói đến những ngôi nhà thờ, nơi chúng tôi có thể đến bỏ đứa bé, giải thích rằng đấy phải là nhà thờ nào mà những người giàu có thường hay lui tới, bởi nếu những người nghèo nhặt đứa bé thì thà cứ giữ nó còn hơn; khi thì bà bảo tôi phải tìm được nhà thờ cống hiến cho nữ thánh Madone, bởi Thánh Madone cũng có đứa con trai và như thế có thể thông cảm mọi chuyện mà chấp thuận ý nguyện của bà. Sự liến thoắng này khiến tôi mỏi mệt và bị kích động, hơn nữa tôi cũng chẳng hãnh diện gì, chẳng thích việc mình đang làm; nhưng tôi cứ tự nhủ là phải giữ cái đầu lạnh, phải tỏ ra bình tĩnh và giúp vợ can đảm.

Tôi đưa ra vài ý kiến bác bẻ, chủ yếu là để ngắt bớt những lời lẽ huyên thiên kia: “ Tui có ý này… hay là mình đem bỏ nó ở nhà thờ Thánh Pierre?” Bà hơi do dự một lát rồi nói: “Cái nhà thờ đó như là một trụ sở quân sự… có thể chẳng ai trông thấy nó… không, tui phải thử đến nhà thờ nhỏ ở đường Condotti, chỗ đó có nhiều cửa tiệm đẹp đẽ…nhiều người giàu có thường đến đó… đấy mới là địa điểm tốt…”
Chúng tôi lên xe buýt và, ngồi giữa đám hành khách, vợ tôi lặng thinh. Thỉnh thoảng bà lại quấn đứa bé trong chăn chặt hơn, hoặc cẩn thận hé mặt nó ra nhìn. Thằng bé đang ngủ, khuôn mặt trắng hồng vùi trong đám tã lót. Quần áo nó cũng tồi tàn như chúng tôi vậy, chỉ có vẻ tươm tất với đôi găng tay màu xanh nhạt, hai bàn tay xinh xắn thò ra ngoài như thể muốn khoe. Chúng tôi xuống xe ở đại lộ Goldoni, vợ tôi lại tiếp tục dài dòng nhiều chuyện. Bà dừng chân trước một tiệm kim hoàn và chỉ tôi xem những món nữ trang bày trong tủ, trên tấm nhung đỏ và nói : “Ông nhìn mấy món  đẹp quá đây này…người ta đến khu này chỉ để mua nữ trang và các thứ đẹp đẽ… người nghèo như chúng ta không ai mạo hiểm tới đây…, họ thì giữa cửa tiệm này và cửa tiệm khác lại đi vào nhà thờ cầu nguyện một lát…họ đầy thiện tâm…có người sẽ nhìn thấy đứa bé và ẵm nó đi.” Bà nói như thế trong khi vẫn ngắm nghía mấy món nữ trang, ôm đứa bé vào lòng, mày nhíu lại, như thể đang nói với chính mình, còn tôi không dám nói gì ngược lại. Chúng tôi vào bên trong nhà thờ: nó nhỏ xíu, tường lát đá hoa giả màu vàng, ngoài bàn thờ lớn còn có nhiều nhà nguyện. Vợ tôi tuyên bố ngay là hình ảnh bà nhớ về nó khác hẳn, giờ nhìn lại bà chẳng hài lòng chút nào. Tuy thế bà cũng nhúng tay vào nước phép và làm dấu thánh giá. Sau đó, tay ôm con, vợ tôi chậm rãi đi vòng quanh nhà thờ, săm soi với vẻ bất bình và nghi ngờ. Từ vòm nóc, xuyên qua những lớp kính màu, một luồng ánh sáng lạnh lẽo mà sống động đổ xuống; vợ tôi đi từ nhà nguyện này đến nhà nguyện khác, kiểm tra mọi thứ, ghế ngồi, bàn thờ, tranh ảnh, xem thử có thể bỏ đứa bé lại không; còn tôi thì nhìn theo bà từ xa và không hề rời mắt khỏi cánh cửa ra vào. Chúng tôi nhìn thấy có một cô gái cao lớn  đi vào, cô ăn mặc toàn màu đỏ, tóc vàng óng. Lúng túng trong chiếc áo chật bó, cô quỳ xuống và sau vài giây cầu nguyện, cô làm dấu và bỏ đi ra, không thèm nhìn chúng tôi.Vợ tôi theo dõi cảnh này và nói ngay: “Không, không thể được… những người vào đây cũng như cô gái hồi nãy thôi, cứ vội vàng để bỏ đi vui vẻ, rong chơi nơi mấy cửa tiệm…, chúng ta đi thôi.” Miệng nói, chân bà bước ra khỏi nhà thờ ngay.

Chúng tôi đi ngược một đoạn khu Corso, chân rảo bước, vợ tôi đi trước, tôi theo sau, và gần đến quảng trường Venise, chúng tôi đi vào một nhà thờ khác. Nó lớn hơn nhà thờ kia nhiều, một phần chìm trong bóng râm, đầy màn trướng, đồ mạ vàng và hòm thánh tích đựng những quả tim bằng bạc lấp lánh trong bóng tối. Có rất đông người và chỉ nhìn thoáng qua tôi nhận thấy rằng những người này thuộc tầng lớp khá giả, phụ nữ đội nón, đàn ông ăn mặc chỉnh tề. Một vị linh mục đang giảng đạo, hai tay vung lên trên bục giảng; mọi người đứng chăm chú nhìn ông và tôi cho rằng điều này rất tốt vì không ai để ý đến chúng tôi… “ Mình thử bỏ đứa bé lại đây ?” tôi nói nhỏ vào tai vợ; bà ra dấu đồng ý. Chúng tôi tiến tới nhà nguyện bên cạnh, chỗ tối; không có ai cả và có thể nói là không thấy gì ở đây.  Vợ tôi kéo một góc chăn bọc đứa bé che kín mặt nó lại và đặt nó trên một chiếc ghế làm như đặt một gói đồ cồng kềnh cho rảnh tay. Rồi bà quỳ xuống và cầu nguyện khá lâu, tay ôm lấy mặt, trong khi đó, chẳng biết làm gì, tôi đưa mắt nhìn hàng trăm quả tim bạc lớn nhỏ đủ cỡ đính trên tường. Cuối cùng, vợ tôi đứng dậy, vẻ căng thẳng, làm dấu và từ từ rời khỏi nhà nguyện, tôi theo sau cách một quãng. Ngay lúc này vị linh mục la lớn : “ Và Chúa Giê-su nói: Pierre, con đi đâu? ” tôi rùng mình, có cảm giác như ông đang nói với tôi. Nhưng khi vợ tôi sắp vén bức màn cửa thì một giọng nói làm cả hai chúng tôi giật mình: “ Này bà, bà bỏ quên gói gì trên ghế kìa.” Đấy là một phụ nữ ăn mặc toàn đen, một trong những người sùng đạo suốt cả ngày chỉ việc tới lui nơi nhà thờ và kho đồ lễ. “ À! Đúng rồi, cám ơn… tôi quên mất.” vợ tôi nói. Thế là chúng tôi đến lấy lại của nợ và ra khỏi điện thờ, sống dở chết dở.
Ra ngoài, bằng cái giọng của một người bán hàng muốn bán đổ bán tháo món hàng của mình mà không có ai mua, vợ tôi nói: “ Không ai muốn nó cả, thằng bé tội nghiệp của tôi!” Nhưng rồi bà cũng bắt đầu chạy lon ton, những bước chân giật giật như không hề chạm đất.

Chúng tôi đổ ra quảng trường Saints- Apôtres; nhà thờ mở cửa và khi bước vào, thấy nó to lớn, rộng và tối, vợ tôi khẽ nói: “ Chỗ này tốt đây.” Bước chân dứt khoát, bà đi vào nhà nguyện phía bên, đặt đứa bé trên ghế băng và, chừng như mặt đất nóng đến bỏng chân, bà không làm dấu, không cầu nguyện, cũng không hôn lên trán đứa bé mà vội vàng tiến ra phía cửa. Nhưng bà chỉ mới chạy được vài bước thì cả nhà thờ vang dội những tiếng khóc tuyệt vọng: lúc này đúng là giờ đứa bé đòi bú, nó đói. Nghe tiếng ré chát chúa đó, vợ tôi đâm ra luống cuống: mới đầu bà chạy ra cửa, rồi chạy trở lui, và không hề suy nghĩ mình đang ở đâu, bà ngồi xuống ghế, ôm con vào lòng và mở cúc áo cho nó bú. Bà chỉ mới vạch ngực ra là thằng bé đưa tay bám riết vào, ngấu nghiến như sói con, nó mới đỡ thèm thì một giọng nói giận dữ thét lên: “ Những chuyện đó không được làm trong nhà của Chúa… đi ra… đi ra ngay… ra ngoài đường mà làm !” Đó là ông giữ nhà thờ, một lão thấp bé, râu bạc, có giọng nói to hơn người. Vợ tôi đứng dậy, vội vàng che ngực áo và đầu đứa bé rồi nói với ông lão: “ Vậy mà trong tranh lúc nào cũng thấy bà Madone cho con bú.” “ Chị muốn so sánh mình với bà Madone à, đồ tự phụ.” Quá chán, chúng tôi bước ra khỏi nhà thờ, đến ngồi trong vườn chỗ quảng trường Venise; vợ tôi tiếp tục cho con bú cho đến khi thằng bé no nê ngủ lại.

Giờ này, màn đêm đã xuống, các nhà thờ đều đóng cửa, chúng tôi mỏi mệt, đờ đẫn, đầu óc không nảy ra ý tưởng nào. Nghĩ là mình đã nhọc lòng để làm một việc mà lẽ ra không nên làm, tôi cảm thấy tuyệt vọng. Tôi bảo vợ: “ Bà nghe đây, muộn rồi, tui không chịu được nữa… phải quyết định đi chứ.” Vợ tôi trả lời chua chát: “ Nhưng nó là giọt máu của ông!... ông muốn rứt bỏ nó như thế, trong xó xỉnh, như người ta vứt bỏ gói giấy đựng bộ lòng con mèo!” – “ Không, không phải thế, nhưng có những việc ta có thể làm ngay không đắn đo hoặc là không làm được nữa” “ Sự thực là ông sợ tui đổi ý mà mang nó về nhà lại… đàn ông các ông toàn là một lũ hèn!” Tôi nghĩ giờ không phải lúc nói trái ý bà nên thong thả trả lời: “ Tui hiểu bà, nhưng bà phải biết rằng dù mọi việc xoay chuyển theo chiều hướng xấu cho nó thì tốt hơn vẫn là cho nó lớn lên ở Tormarancio, trong căn phòng không cầu tiêu, không bếp núc, giữa đám vi trùng mùa đông và bầy ruồi nhặng mùa hè.” Lần này thì bà không trả lời. 

Chẳng ý thức mình đang đi đâu, chúng tôi theo đường quốc lộ ngược về hướng Tháp Néron. Xuống dưới một chút, tôi để ý thấy một con đường dốc, hoàn toàn vắng vẻ, chỉ có một chiếc xe hơi màu xám, cửa đóng, đỗ trước cổng nhà. Tôi chợt có một ý, đến gần chiếc xe, thử mở tay nắm, cửa xe bật ra. Tôi nói với vợ: “ Mau lên, thời cơ đây rồi… bỏ thằng nhỏ ở băng ghế sau.” Bà nghe lời, mang đặt đứa bé lên ghế và đóng cửa lại. Mọi chuyện xảy ra trong vài giây, không ai nhìn thấy chúng tôi. Tôi nắm cánh tay vợ, chạy tránh xa về phía quảng trường Quirinal.

Quảng trường vắng vẻ, tối om, lác đác vài ngọn đèn rọi xuống các cung điện, vượt lên trên các lan can, ánh sáng thành phố Rome lấp lánh trong đêm. Vợ tôi đến gần bể nước, dưới chân tháp, ngồi xuống ghế và bật khóc, quay lưng về phía tôi như thể đang ngồi một mình. “ Bà làm sao vậy? ” tôi hỏi. “ Bây giờ đã bỏ con rồi, tui thấy nhớ nó… tui thấy thiêu thiếu cái gì ở đây, ở chỗ ngực, chỗ nó hay bám víu vào.” Tôi nói không chủ định: “ Dễ hiểu thôi mà… nhưng rồi mọi việc sẽ qua.” Bà nhún vai và tiếp tục khóc. Rồi đột ngột nước mắt bà ráo hoảnh, như làn gió làm tạnh cơn mưa. Bà đứng dậy, giận dữ, chỉ tôi thấy một trong những cung điện và nói:   “Bây giờ tui biết mình sẽ đi đâu rồi,  tui đi gặp ông vua và sẽ kể hết mọi chuyện.” – “ Bình tĩnh đi, tôi đưa tay giữ bà lại và nói lớn… bà điên rồi, bà biết thời này còn vua chúa nào nữa đâu !” – “ Tui không cần, tui sẽ nói chuyện với người nào thay thế vua… phải có ai đó chứ.” Bà sắp chạy về phía cổng vào, có Trời mới biết bà sẽ gây ra chuyện tai tiếng gì nữa nếu tôi không đột ngột lên tiếng ngoài cả dự định: “ Bà nghe tui đây, tui nghĩ lại rồi… mình trở lại xe và lấy lại đứa nhỏ… bà còn muốn gì nữa, ta sẽ giữ nó… thôi thì, thêm một đứa hay bớt một đứa…” Ý kiến này, hẳn cũng là điều bà đang nghĩ, xóa tan đi cái ý đi nói chuyện với ông vua. “ Nhưng liệu nó còn đó không?” bà vừa nói vừa chạy nhanh đến con đường nơi chiếc xe màu xám đang đỗ.  “Chắc chắn là còn, tôi trả lời, mới năm phút thôi chứ mấy…”
Quả thật chiếc xe vẫn còn ở đó. Nhưng, đúng lúc vợ tôi sắp mở cửa xe thì một người đàn ông trung niên, béo lùn, vẻ mặt hách dịch, xuất hiện trước cổng và la lớn: “ Dừng lại… dừng lại… bà định lấy gì trong xe tôi đó?” Vợ tôi nhoài người vào trong để  ẵm lấy đứa bé trên ghế, trả lời mà không quay lại : –  “Tui muốn lấy cái gì thuộc về tui.” Người đàn ông vẫn khăng khăng :  “Mà bà lấy cái gì?... xe này của tôi… bà hiểu chưa, nó là của tôi…” Phải nhìn thấy vợ tôi lúc đó. Bà đứng thẳng lên và tấn công kiểu thế này : “ Không, ai thèm lấy gì của ông ?... Đừng sợ, không ai lấy gì của ông hết… còn chiếc xe, coi này, tui nhổ vào nó đấy, biết chưa?...” Và thực sự bà nhổ ngay vào cửa xe. Ông kia ngơ ngác hỏi: “ Nhưng mà này, cái gói gì kia ? ” “ Không phải cái gói, mà là con trai tui, nhìn đây này…”
Bà để lộ khuôn mặt đứa bé chìa ra cho ông kia xem và nói tiếp : “ Một thằng con trai xinh xắn thế này, bộ ông tưởng có thể tạo ra được một đứa như thế với vợ ông à… và đừng tìm cách đụng vào tui, nếu không tui sẽ la lên, gọi lính gác và báo là ông muốn bắt cóc con trai tui…” Tóm lại là vợ tôi cứ nói, nói mãi, đến nỗi người đàn ông tội nghiệp kia, mặt đỏ bừng, mồm há hốc, chừng như sắp bị sung huyết.
Cuối cùng, vợ tôi thong thả bỏ đi, tay ôm con, trở lại chỗ tôi đứng ở cuối đường.


THÂN TRỌNG SƠN
( Dịch từ tiếng Pháp – Le bébé – Claude PONCET )

samedi 7 juin 2014

THƠ MAYA ANGELOU



 MAYA ANGELOU
Nhà thơ da đen Hoa Kỳ ( 1928 - 2014 )

 



Gọi là nhà thơ, thật ra là chỉ nhắc đến một khuôn mặt của nhân vật kiệt xuất, ngôi sao sáng nhiều mặt vừa qua đời ngày 28/5/2014 này. Bà là nhà thơ, nhà văn, nhà báo, người viết tiểu sử, sử gia, giáo sư, nhà biên kịch, nhà làm phim, vũ công, ca sĩ, diễn viên, nhà hoạt động cho dân quyền, chống nạn phân biệt chủng tộc.
Ngắn gọn và đầy đủ, hãy gọi bà là " Người phụ nữ phi thường ", như nhan đề của một bài thơ của chính bà, xin giới thiệu ( với vài bài khác ) sau đây:


NGƯỜI PHỤ NỮ PHI THƯỜNG


Phụ nữ đẹp hay thắc mắc đâu là bí mật của tôi
Tôi không xinh cũng chẳng hợp với vóc dáng của người mẫu
Nhưng khi tôi bắt đầu nói cho họ biết
Họ đều nghĩ là tôi nói dối.

Tôi nói,
Bí mật là ở chỗ tầm với của vòng tay
Khoảng rộng của vòng hông
Bước sải của đôi chân
Nét quyến rũ của môi cong
Một cách phi thường
Tôi là phụ nữ
Người phụ nữ phi thường
Chính là tôi.

Tôi bước chân vào phòng
Bình tĩnh, thản nhiên
Và đến gần người đàn ông
Mấy chàng trai đều đứng lên
Hay đồng loạt quỳ gối
Rồi vây quanh lấy tôi
Như bầy ong thấy mật.
Tôi nói
Bí mật ở chỗ nồng cháy của đôi mắt
Sáng bóng của hàm răng
Đong đưa của vòng eo
Rộn rã của đôi chân
Một cách phi thường
Tôi là phụ nữ
Người phụ nữ phi thường
Chính là tôi.

Ngay cánh đàn ông cũng thường tự hỏi
Họ nhìn thấy gì ở nơi tôi
Họ bõ công tìm kiếm
Nhưng chẳng thể nào khám phá được
Vẻ bí ẩn bên trong của tôi
Ngay cả khi tôi chỉ cho họ
Họ nhận là vẫn chẳng thấy gì.
Tôi nói,
Bí mật của tôi, đó là tấm lưng thon,
Là nụ cười rực nắng,
Là ngực tròn mê đắm,
Là dáng vẻ yêu kiều.
Một cách phi thường
Tôi là phụ nữ
Người phụ nữ phi thường
Chính là tôi.

Bây giờ bạn đã hiểu
Vì sao tôi không phải cúi đầu
Tôi không reo hò hay nhảy bổ
Hoặc phải cố nói thật to
Khi bạn nhìn thấy tôi đi qua
Tôi phải làm sao cho bạn thấy tự hào
Tôi nói
Bí mật là ở chỗ đôi gót chân lách cách
Mái tóc uốn lượn cong
Ở trong lòng bàn tay
Sự quan tâm cần thiết
Bởi vì, một cách phi thường
Tôi là phụ nữ
Người phụ nữ phi thường
Chính là tôi.


CÔNG VIỆC CỦA PHỤ NỮ


Tôi có con cái phải chăm
Áo quần phải vá
Sàn nhà phải lau
Thực phẩm phải sắm
 Rồi con gà phải rán
Đứa bé phải lau khô
 Khách khứa phải đãi ăn
Khu vườn phải làm cỏ
Áo xống phải ủi thẳng.

Tôi phải mặc đồ cho lũ nhỏ
Phải mở nắp chiếc hộp con
Phải làm sạch thoáng căn nhà
Rồi phải chăm lo người bệnh.
Phải tháo gỡ cuộn vải bông.

Hỡi ánh nắng, hãy chiếu sáng tôi
Hỡi cơn mưa, hãy đổ lên người tôi
Hỡi giọt sương, hãy rơi thật khẽ
Và làm mát lại vầng trán tôi.

Hỡi bão tố, hãy thổi tung tôi từ chốn này
Với sức gió dữ dằn mãnh liệt nhất
Cho tôi bay bổng trên bầu trời
Đến khi lại được nghỉ ngơi.

Hỡi những bông tuyết, hãy rơi thật nhẹ
Phủ lên tôi khắp cả châu thân
Những chiếc hôn lạnh lẽo giá băng
Để đêm nay tôi thoả lòng yên nghỉ.

Nắng, mưa, và vòm trời xanh,
Núi, biển, lá cây và đá,
Ánh sao và vầng trăng rực rỡ,
Chỉ  các người tôi mới gọi là của riêng mình.



KHI ANH ĐẾN


Khi anh tự ý đến với em,
Anh vẫy mời
Em đến cõi xa xưa
Nơi kỷ niệm chôn giấu
Trao tặng em, như tặng trẻ con, căn gác thượng,
Góp nhặt sơ sài những tháng ngày qua,
Bộn bề những nụ hôn vụng trộm
Bừa bãi những cuộc tình vay mượn
Đầy dẫy những ngôn từ bí ẩn.

Em bật khóc.




CHẠM CÁNH THIÊN THẦN


Chúng ta, thôi không quen dũng cảm,
Đoạn lìa hẳn mê say,
Sống cuộn mình trong cái vỏ đơn côi,
Cho đến khi tình yêu rời ngôi bảo tháp
Hiện ra trước mắt.
Giải thoát ta đưa về cuộc sống.

Tình yêu đến
Chở theo bao hạnh phúc ngất ngây
Hoài niệm hoan lạc cũ
Hồi ức đau thương xưa
Tuy nhiên nếu ta bạo dạn
Tình yêu tháo gỡ xiềng xích hãi sợ
Từng trói buộc hồn ta.

Ta dứt được thói e dè
Trong niềm phấn khích của hào quang tình ái
Ta mạnh dạn không còn sợ hãi
Và bất chợt ta sẽ nhận ra
Rằng tình yêu trang trải hết cho ta
Bây giờ và mãi mãi.
Chỉ có tình yêu
Mới ban cho ta tự do.



THỜI GIAN QUA ĐI


Da người tựa bình minh
Da tôi như mùi xạ

Một bên khắc hoạ sự khởi đầu
Của một kết thúc nào đó

Bên kia, sự kết thúc của
Một sự khởi đầu rõ ràng.


ĐÀN ÔNG


Thời còn trẻ, tôi thường hay
Quan sát từ phía sau màn cửa
Những người đàn ông xuôi ngược trên đường. Những gã say, những lão già.
Những người trẻ thì hăng như mù tạt.
Tôi nhìn họ. Đàn ông lúc nào cũng
Đi tới nơi nào đấy.
Họ biết tôi đứng đây. Mười lăm
tuổi và khát khao họ.
Dưới khung cửa sổ tôi đứng, có thể họ dừng lại
Đôi vai nhô cao lên
Như vú một cô gái
Vạt sau áo khoác phủ lấy
Cặp mông.
Ôi những người đàn ông.

Một hôm họ giữ bạn trong
lòng bàn tay, dịu dàng, như thể bạn
là quả trứng tươi cuối cùng trên thế giới. Sau đó
Họ siết chặt. Một chút thôi. Lần
siết đầu tiên còn dễ chịu. Một cái ôm vội vàng.
Mềm mại trong sự không thể chống cự của bạn. Thêm
Một chút nữa. Đau đớn bắt đầu. Vặn xoắn
Một nụ cười trượt quanh nỗi sợ. Khi
Không khí biến mất,
Tâm trí bạn bật ra, nổ bùng dữ dội, ngắn ngủi,
Như đầu que diêm trong bếp. Vỡ tan.
Đó là nước ép của bạn
Chảy xuống đôi chân họ. Làm ố giày họ mang.
Khi trái đất tự điều chỉnh lần nữa,
Và mùi vị cố trở lại đầu lưỡi,
Thân thể bạn đóng sầm lại. Mãi mãi.
Không chiếc chìa khoá nào tồn tại.

Khi chiếc cửa sổ phủ đầy lên
Tâm trí bạn. Nơi đó, phía bên kia
Sự lay động của màn cửa, những người đàn ông bước đi
Biết chút gì
Đi đâu đó
Nhưng lần này, tôi chỉ đơn giản
Đứng và nhìn.

Có lẽ.


TÔI BIẾT VÌ SAO CHIM TRONG LỒNG HÓT


Con chim tự do bay nhảy
Trên lưng gió
Thả trôi xuôi
Đến tận cuối giòng
Và nhúng đôi cánh
Trong ánh nắng vàng óng
Và kiêu hãnh đòi lấy không trung.

Nhưng có con chim đứng oai phong
Trong chiếc lồng chật hẹp
Chẳng mấy khi nhìn thấy được
Qua chấn song giận dữ
Đôi cánh bị cắt cụt
Đôi chân bị trói buộc
Nên chim hắng giọng cất tiếng hót.

Con chim trong lồng hót
Với âm rung hãi khiếp
Về những điều chưa biết
Nhưng vẫn mãi ước ao
Âm thanh được vang ra
Đến ngọn đồi nẻo xa
Bởi chim nhốt trong lồng
Cất tiếng hót tự do.

Con chim tự do nghĩ đến làn gió khác
Gió mát lành qua hàng cây thở than
 Chú sâu béo tròn trên bãi cỏ bình minh
Chim gọi trời xanh là của riêng mình.

Đứng trên nấm mồ của những giấc mơ
Bóng chim lồng thất thanh cơn ác mộng
Cánh bị cắt và đôi chân bị cột
Chim hắng giọng cất lên tiếng hót.

Con chim trong lồng hót
Với âm rung hãi khiếp
Về những điều chưa biết
Nhưng vẫn mãi ước ao
Âm thanh được vang ra
Đến ngọn đồi nẻo xa
Bởi chim nhốt trong lồng
Cất tiếng hót tự do.



TÔI VẪN ĐỨNG DẬY


Bạn có thể hạ thấp tôi trong lịch sử
Bằng lời dối trá cay độc quanh co
Bạn có thể dìm tôi xuống chốn bẩn dơ
Nhưng, như hạt bụi, tôi vẫn đứng dậy.

Phải chăng tôi tươi tắn khiến bạn căm tức?
Và cớ sao bạn phiền muộn u sầu?
Vì chân tôi bước như thể giếng dầu
Được bơm vào căn phòng tôi tiếp khách?

Như chốn cung trăng, như những mặt trời
Như dòng thuỷ triều chẳng hề thay đổi
Như nguồn hy vọng vẫn mãi tuôn trào
Tôi vẫn đứng dậy, vẫn ngẩng cao đầu.

Chả lẽ bạn lại muốn tôi suy sụp
Đầu cúi gầm, mắt nhìn xuống đất?
Đôi vai gập, như sa nước mắt
Ủ rũ yếu hèn qua tiếng khóc than?

Tôi kiêu kỳ khiến bạn bị xúc phạm?
Lẽ nào bạn thấy nặng nề tổn thương
Chỉ vì tôi cười vui như cả mỏ vàng
Đào ngay trong sân nhà mà có được?

Bạn có thể bắn tôi bằng câu chữ
Bạn có thể cắt tôi bằng mắt nhìn
Bạn có thể giết tôi bằng oán ghét căm hờn
Nhưng, như khí trời, tôi vẫn sẽ đứng dậy

Vì tôi quyến rũ nên bạn buồn bực?
Khiến bạn cho là chuyện bất thường
Khi tôi nhảy múa như từng có kim cương
Ngay ở chỗ hai đùi tôi gặp gỡ.

Từ chốn tồi tàn của tủi hờn lịch sử
Tôi đứng dậy
Từ nơi nguồn cội của tang thương quá khứ
Tôi đứng dậy
Tôi là đại dương đen, cuồn cuộn mênh mông
Tuôn trào, vỡ căng theo ngọn thuỷ triều dâng
Bỏ lại phía sau những đêm dài khiếp sợ
Tôi đứng dậy
Trong ánh bình minh rạng ngời trong vắt
Tôi đứng dậy
Mang theo tặng phẩm của bao nhiêu thế hệ
Tôi đứng dậy
Tôi là ước mơ, là khát vọng của kiếp người nô lệ
Tôi đứng dậy
Tôi đứng dậy
Tôi đứng dậy.



THÂN TRỌNG SƠN
chuyển ngữ
( Nguồn: poemhunter.com )









lundi 20 janvier 2014

HOA VIOLET NGÀY THỨ TƯ






Truyện ngắn
ANDRÉ MAUROIS




   André Maurois, tác giả Pháp ( 1885-1967 ), để lại hơn 100 tác phẩm thuộc đủ mọi thể loại: Nhiều tiểu thuyết tâm lý ( Bernard Quesnay, Climats – có người dịch là Tâm cảnh -, Terre promise – Đất hứa – Les Roses de septembre – Những đóa hồng tháng chín -) có cuốn gần với truyện vừa và truyện ngắn, có khi có hơi hướng truyện giả tưởng ( Le peseur d’âmes – Người cân linh hồn -, La machine à lire les pensées – Máy đọc tư tưởng - . Có những tác phẩm nghiên cứu, khảo luận ( Un art de vivre – Một nghệ thuật sống -, Sept visages de l’amour – Bảy khuôn mặt tình yêu – Au commencement était l’action – Khởi đầu là hành động…) Ông còn là nhà viết sử với các cuốn Histoire de l’Angleterre ( Lịch sử nước Anh ), Histoire des Etats-Unis ( Lịch sử Hoa Kỳ ), Histoire de France ( Lịch sử nước Pháp ). Ông nổi tiếng nhất với một loạt tác phẩm viết tiểu sử các văn nghệ sĩ ( Shelley, Byron, Victor Hugo, George Sand, Balzac, Tourgueniev, Voltaire, Chateaubriand, Marcel Proust ), các chính trị gia ( Disraeli, Lyautey ), và cả nhà khoa học ( Alexandre Flemming )…

Độc giả Việt Nam đã biết đến Ông với bản dịch ( của Nguyễn Hiến Lê ) các tác phẩm “Thư gởi người đàn bà không quen biết” ( Lettre à une inconnue ) và nhất là “Thư ngỏ gửi tuổi đôi mươi” ( Lettre ouverte à un jeune homme sur la conduite de la vie ), là tác phẩm Ông viết ở tuổi 80, trong đó ông giải đáp mọi thắc mắc của thanh niên về nhiều vấn đề: quan niệm sống, tu dưỡng, hôn nhân, việc làm, viết văn, tiêu khiển, tình yêu, tín ngưỡng…

Ông cũng chính là người đã dịch bài thơ IF nổi tiếng của Rudyard Kipling ra tiếng Pháp với nhan đề Tu seras un homme, mon fils.



Truyện ngắn “ Hoa violet ngày thứ tư ” là một câu chuyện tình thơ mộng, lãng mạn được giới trẻ ưa thích.







- Kìa, bà Jenny, xin bà hãy ở lại đã!

Trong suốt bữa ăn trưa, bà Jenny Sorbier thật rạng rỡ. Nói thế là nói tài năng của một nữ diễn viên mà chuyện kể và chuyện thực cứ đan xen vào nhau, kết lại bằng một nguồn cảm hứng bất tận, như được một nữ tiểu thuyết gia soạn thảo. Các khách mời của Léon Laurent tỏ ra say mê, phấn khích, bị thuyết phục, tưởng chừng như đang trải qua những giây phút thăng hoa, quên cả thực tại.

-    Không thể được đâu, đã gần bốn giờ rồi và hôm nay là thứ tư…Ông biết rồi đấy, ông Léon, hôm nay là ngày tôi phải mang hoa violet đến cho người đã từng yêu thương tôi.

- Thật đáng tiếc! Léon nói bằng một giọng đứt quãng cố làm cho không khí thêm phần nghiêm trọng. Nhưng tôi hiểu sự chung thủy của bà. Tôi chẳng dám nài nỉ.

      Bà Jenny ôm hôn các phụ nữ, cánh đàn ông ôm hôn bà, rồi bà bỏ đi. Bà vừa ra khỏi thì mọi người dồn dập cất lời ngợi khen:

- Bà ấy thật phi thường! Năm nay bà bao nhiêu tuổi rồi hả Léon?

- Cũng gần tám mươi. Thời tôi còn nhỏ, mẹ tôi thường dẫn tôi đi xem các xuất diễn buổi chiều kịch cổ điển Pháp, bà đã nổi tiếng với vai Célimène (1) rồi.  Mà giờ thì tôi không còn trẻ nữa.

- Tài năng không kể tuổi tác, Claire Ménétrier nói… Còn chuyện những bông hoa violet là sao?

- Cả một thiên tiểu thuyết, có lần bà đã tiết lộ với tôi… mà bà chưa bao giờ viết lại đâu nhé… Nhưng tôi không thể đánh liều thuật lại khi vắng mặt bà. Chuyện suy diễn đồn đại đáng sợ lắm.

- Vâng, suy diễn đồn đại đáng sợ thật. Nhưng chúng tôi là khách mời của ông, ông phải thay bà Jenny cho chúng tôi giải khuây chứ vì bà đã bỏ chúng tôi đi rồi.

- Thôi đành vậy, tôi sẽ cố kể cho các vị nghe chuyện những bông hoa violet ngày thứ tư. Tôi chỉ ngại là chuyện có vẻ tình cảm sướt mướt quá so với thị hiếu thời chúng ta…

- Được thôi! Bertrand Schmitt nói. Thời đại chúng ta đang khát tình cảm. Nó chỉ giả bộ tỏ ra trâng tráo để che giấu sự hoài niệm tình cảm đấy thôi.

- Ông cho là vậy sao? Thôi được..! Tôi sẽ giải cơn khát đó vậy… Ở đây các vị đều quá trẻ để nhớ lại tiếng tăm lẫy lừng của Jenny trong khoảng thời gian rất dài. Mái tóc vàng hung cố tình buông xõa trên đôi vai tuyệt trần, con mắt dài đong đưa, giọng nói sắc, gần như là khó chịu, rồi bất chợt vỡ ra vì xúc cảm, tất cả tôn lên một vẻ đẹp rạng rỡ, kiêu kỳ.

- Diễn từ hay quá, ông Léon.

- Vâng, nhưng cũng phải nói như vậy… Dẫu sao cũng xin cám ơn ông. Bà ấy đạt giải thưởng đầu tiên tại Nhạc viện, khoảng năm 1895 và ngay lập tức được nhận vào Hý viện Pháp (2) . Ôi, qua kinh nghiệm tôi cũng biết rằng nhà hát danh tiếng này  khó khăn lắm. Các vai diễn trong kịch mục (3) đều có sẵn tên người và họ khư khư giữ lấy. Diễn viên xuất sắc nhất trong số các vai phụ có khi phải chờ ở đấy đến mười năm mới được giao những vai tốt nhất trong các vở của Marivaux hay Molière. Jenny, vai nữ đẹp quyến rũ đến thế, phải đương đầu với những nhân vật quyền uy và kiên quyết. Bất kỳ một phụ nữ nào khác ắt phải đành cam chịu giẫm chân tại chỗ hoặc là sau hai năm là trôi giạt sang một đoàn kịch đường phố (4). Jenny của chúng ta thì không như vậy. Cô lao vào cuộc chiến bằng cách huy động tất cả những gì mình có: tài năng diễn xuất, vốn văn hóa, sự quyến rũ và mái tóc làm say đắm lòng người.

    Rất nhanh chóng cô giành được trong Nhà hát một vị trí hàng đầu. Viên quản lý chỉ tin cậy cô. Các tác giả đòi phải dành cho cô các vai diễn khó mà họ nói là chỉ cô mới đảm đương được. Các nhà phê bình không ngớt lời tán tụng cô. Ngay cả Sarcey (5) lừng danh cũng phải buông lời: “ Cô ta có những điệu bộ, kiếu cách làm mê hoặc đến cả loài cá sấu”

  Cha tôi thời đó từng quen biết cô bảo tôi là cô ấy rất yêu nghề, nói đến nghề của mình với ý thức và luôn tìm cách tạo ra những hiệu ứng mới mẻ và làm mọi người kinh ngạc. Thời bấy giờ, kịch nghệ đang trượt vào một chủ nghĩa hiện thực có phần ngây thơ. Nếu như trong một vở nào đó Jenny phải bị đầu độc mà chết thì cô sẽ tìm đến các bệnh viện để nghiên cứu tác dụng của thuốc độc. Còn chuyện biểu lộ tình cảm thì cô tự nghiên cứu ở chính mình. Ngay khi đụng đến ngành nghệ thuật của mình là cô chỉ ra ngay sự thiếu thận trọng của một Balzac (6) khi trong tiểu thuyết của mình ông đưa vào những đam mê của cá nhân hay của người phụ nữ ông yêu.

  Các vị có thể hiểu được rằng một cô gái tuổi mới hăm hai, đẹp lộng lẫy, bỗng chốc đạt tới vinh quang ắt được săn đón như thế nào. Các bạn đồng nghiệp muốn thử vận may, rồi các nhà viết kịch, các chủ nhà băng nữa. Một trong những người thuộc giới này là ông Henri Stahl lọt vào mắt xanh của cô. Chẳng phải vì ông ta giàu có. Cô sống chung với gia đình và cũng chẳng đòi hỏi gì nhiều. Chỉ vì chính ông ta cũng rất có duyên và nhất là ông đã ngỏ ý sẽ cưới cô… Các vị cũng rõ là hôn lễ bị hoãn lại vì bố mẹ chàng trai phản đối. Ba năm sau mới cưới nhau và cũng không lâu bền được vì Jenny vốn thích độc lập tự do khó hòa hợp với những câu thúc của đời sống vợ chồng. Nhưng, đấy là một câu chuyện khác. Chúng ta hãy trở lại với Hý viện Pháp, với thời khởi nghiệp của Jenny… và với những bông hoa violet.

  Các vị hãy hình dung ra phòng giải lao của các nghệ sĩ vào buổi tối Jenny diễn lại vở Công chúa thành Bagdad của Dumas con (7). Vở kịch có những hạn chế và đối với tôi, vốn mến mộ các vở có cấu trúc vững chắc như Gái giang hồ (Le Demi-Monde), Bạn của các bà ( l’Ami des Femmes ), Francillon, thì ông Dumas thái quá của vở Người xa lạ (l’Étrangère) hay Công chúa (la Princesse) cũng khiến tôi cười được. Thế nhưng ai đã xem Jenny diễn vai này đều có ý kiến là cô làm cho vai diễn như thật. Tôi có lần nói điều này với bà Jenny và điều ngạc nhiên là bà cũng tin như thế. Bà cho biết:” Vào thời ấy, tôi dễ dàng suy nghĩ như  là một nhân vật chính của Dumas con và tôi cảm thấy hơi kỳ cục khi đem phô diễn ra ngoài ánh sáng những gì diễn ra trong tôi, trong cõi sâu thẳm nhất của tâm hồn”. Nên thêm vào rằng trong vai này mái tóc buông xõa và đôi vai trần của cô đều phát huy tác dụng. Nói gọn là cô thật tuyệt vời.

  Giờ này thì cô đang trong phòng giải lao, vào giờ nghỉ giữa hai màn, sau tràng pháo tay. Mọi người vây chặt lấy cô. Jenny ngồi trên chiếc ghế nhỏ, cạnh Henry Stahl, và đang huyên thuyên đủ chuyện trong niềm phấn khích của sự thành công.

- Thế là thoát! anh Henry thân yêu… Em đã trồi lên mặt nước đây này! Cuối cùng em cũng thở được… Anh đã nhìn thấy em cách đây ba ngày. Hôm ấy em tệ hại lắm phải không? … Uỵch! Xuống tận đáy ao luôn. Em ngạt thở… Thế rồi, tối nay, hấp! Một nỗ lực vượt bực và em nổi lên được ! Nghĩ xem, anh Henry, Nếu mà em rơi tỏm xuống ở màn cuối, nếu mà em không thể bơi được đến bờ? Ôi, trời ơi, trời ơi!

 Nhân viên dẫn khách bước vào đưa cho cô bó hoa.

- Của ai đây? À, của người từ Saint-Loud… Đối thủ của anh đấy, Henri… Làm ơn mang để trong phòng chờ của tôi.

- Còn có một lá thư nữa, thưa cô, người dẫn khách nói.

      Cô mở thư ra đọc và phá lên cười:

- Của một học sinh trung học…Cậu ta nói là ở trường cậu đã lập một câu lạc bộ Jenny.

- Câu lạc bộ đua ngựa cũng là câu lạc bộ Jenny, Henry nói.

- Các học sinh làm em cảm động hơn, Jenny đáp. Cậu này còn kết thúc bằng mấy câu thơ nữa… Nghe này, anh yêu:

Cuối cùng xin lượng thứ cho bài thơ tầm thường của tôi

Và đừng chê thơ sai vần lạc điệu

Chỉ thay tôi nói lời yêu thương tha thiết

Và nhất là xin nàng đừng nói gì cho thầy hiệu trưởng biết.



Chẳng dễ thương sao hả anh?              

- Em sẽ trả lời cậu ấy chứ?

-       Tất nhiên là không rồi. Có hàng chục lá thư như vậy mỗi ngày. Nếu trả lời hết sẽ mất công lắm…Nhưng mà điều này làm em yên tâm. Những người hâm mộ tuổi mười sáu như thế này em sẽ giữ được lâu.

- Không chắc đâu… Đến ba mươi họ sẽ là những chưởng khế.

- Nhưng mà tại sao chưởng khế lại thôi không ngưỡng mộ em nữa?

- Còn cái này nữa, thưa cô, người dẫn khách nói.

Ông ta đưa cho cô một bó hoa violet tầm thường.

- Ôi! Dễ thương quá… Nhìn này, anh Henry… Không có danh thiếp sao?

-       Không, thưa cô. Người gác cổng nói với tôi là bó hoa được một sinh viên Bách khoa (8) mặc đồng phục mang đến chỗ anh ta.

- Chúc mừng em đó, em thân yêu, Henri Stahl nói. Làm xúc động “những cái đầu trường X (8)” này không phải dễ đâu.

           Jenny ngửi thật lâu những bông hoa violet.

- Thơm quá. Chỉ những biểu hiện mến mộ thế này mới làm em vui… Em chẳng thích đám khán giả  già dặn và lạnh lùng đến xem em chết đi lúc nửa đêm cũng như giữa trưa đến Cung điện Hoàng gia (9) nghe tiếng đại bác nổ vậy.

- Đám công chúng nhẫn tâm, Stahl nói. Lúc nào họ cũng như thế… Họ chuộng các trò xiếc… Một nữ diễn viên nuốt được một trăm cây kim sẽ được xem là thành công rực rỡ!

Jenny cười:

- Còn người nuốt cả cái máy may? Hẳn sẽ là tột đỉnh vinh quang.

Có tiếng la lớn: “ Diễn tiếp đi!” . Jenny đứng dậy:

- Thôi, hẹn lát nữa! Em đi nuốt một trăm cây kim đây.

Và như vậy đó, theo lời Jenny thuật lại, thiên tình sử bắt đầu.

         Ngày thứ tư kế đó, thêm một lần nữa, vào giờ nghỉ giải lao, người dẫn khách lại mang đến cho Jenny một bó hoa violet.

- Sao? Vẫn là anh chàng sinh viên Bách khoa chứ?

- Vâng, thưa cô.

- Anh ta trông thế nào?

- Tôi không rõ, thưa cô. Có cần phải hỏi anh gác cổng không?

- Không, cũng chẳng quan trọng gì.

       Tuần lễ tiếp theo, ngày thứ tư cô không diễn, nhưng qua thứ năm khi cô đến tập thì thấy có bó hoa violet lần này hơi héo trong phòng chờ của mình. Lúc ra về, cô ghé lại chỗ anh gác cổng.

- Này anh Bernard, bó hoa violet của tôi là sao? Vẫn của anh chàng đó chứ?

- Vâng, thưa cô. Lần thứ ba rồi đó.

- Anh chàng sinh viên đó trông thế nào?

- Anh ấy thật dễ thương… Rất dễ thương. Hơi gầy, má hõm, mắt quầng thâm. Chút râu mép nâu. Kính cầm tay…. Trông ngộ lắm với cây kiếm bên hông… Thật tình, cô ạ, anh chàng có vẻ si mê lắm rồi. Anh ta trao tôi bó hoa và nói: “ Nhờ gởi tặng cô Jenny Sorbier”, mặt đỏ bừng.

- Tại sao lúc nào anh ta cũng đến vào ngày thứ tư?

- Cô không biết sao? Thứ tư là ngày sinh viên Bách khoa được phép đi ra ngoài. Cứ đến thứ tư là các khu khán đài sau ban nhạc và trên ban công đầy ắp. Mỗi chàng đều dẫn theo một cô gái.

- Anh chàng của tôi cũng có chứ?

- Vâng, thưa cô, nhưng đó là chị của anh ta. Họ giống nhau đến lạ kỳ.

- Chàng trai tội nghiệp! Nếu tôi bạo một tí, nói thật với anh là tôi sẽ mời anh ta ít nhất một lần ghé lại phòng chờ của tôi để anh ta có thể tận tay trao bó hoa cho tôi.

- Điều ấy tôi không dám khuyên cô. Những khán giả si tình thế này, nếu ta không để ý đến, họ chẳng có gì nguy hiểm. Họ ngưỡng mộ các nữ diễn viên từ xa, trên sân khấu, thế là họ bằng lòng rồi. Nhưng nếu ta tỏ ra quan tâm chút đỉnh thôi thì họ sẽ đeo bám, và thật kinh khủng đó. Được đằng chân lân đằng đầu vậy mà. Vâng, thưa cô, cô cứ cười nhưng tôi thì tôi có kinh nghiệm rồi. Tôi ở nhà hát này đã hai mươi năm nay. Và, nơi phòng chờ tôi đã nhìn thấy nhiều cô gái si tình… Và những chàng trai gàn dở… Rồi những ông già… Lúc nào tôi cũng nhận hoa, nhận thiếp, nhưng để cho họ đi lên, không có chuyện đó đâu!

- Anh nói có lý, anh Bernard. Ta phải lạnh lùng, cẩn trọng và tàn nhẫn.

- Chẳng phải là tàn nhẫn đâu cô, mà là khôn ngoan thôi.

              Nhiếu tuần lễ trôi qua. Cứ đến thứ tư Jenny lại nhận được một bó hoa violet tầm thường. Trong nhà hát mọi người đều biết chuyện. Một cô bạn nói với Jenny:

- Tôi đã nhìn thấy  anh chàng Bách khoa của chị… Anh ta có đầu óc thật lãng mạn. Một chàng trai sinh ra để diễn Badine hay “Người làm bình phong” (le Chandelier) (10 ).

- Làm sao chị biết đó là anh chàng của tôi?

- Tại vì tôi tình cờ có mặt chỗ người gác cổng ngay lúc anh ta mang hoa đến và rụt rè nói: “Xin gởi tặng cô Jenny Sorbier” Thật cảm động. Có thể thấy là anh chàng khá thông minh, ngại bị chế giễu nhưng không giấu được sự xúc động. Có lúc tôi thấy tiếc là anh ta không đến vì tôi; tôi sẽ cám ơn và an ủi anh ta… Nên nhớ là anh ta không đòi hỏi gì, ngay cả việc gặp được chị nữa. Nếu ở vào hoàn cảnh của chị…  

- Chị sẽ tiếp anh ta chứ gì?

- Vâng, một lát thôi. Chuyện xảy ra nhiều tuần nay rồi. Kỳ nghỉ sắp đến. Chị sẽ đi xa… Vậy thì chẳng ngại bị anh ta đeo bám…

- Chị nói đúng, Jenny đáp. Thật điên rồ khi xem thường mấy người ái mộ khi họ đông đúc, trẻ trung, rồi ba chục năm sau mới chạy theo khi bọn họ già hết và chẳng còn bao nhiêu.

Tối hôm đó, lúc ra về cô nói với người gác cổng:

- Anh Bernard ạ, thứ tư tuần sau khi anh chàng Bách khoa mang hoa đến, anh nhớ bảo anh ta tự mang lên cho tôi sau màn ba…Hôm đó tôi diễn vở Kẻ ghét đời. Vai diễn của tôi chỉ cần một bộ trang phục. Tôi sẽ lên phòng chờ và tiếp anh ta ở đó… Mà không! Tôi sẽ đợi anh ấy ở hành lang, dưới chân cầu thang. Hoặc là ở phòng giải lao.

- Được thôi… Cô không ngại chứ?

- Có gì mà ngại? Mười ngày nữa tôi đi lưu diễn rồi, hơn nữa chàng trai này được nhà trường quản chặt .

- Vâng, thưa cô. Điều tôi muốn nói là…

 Ngày thứ tư sau đó, dù không muốn, Jenny vẫn diễn vai Célimène cho người chưa quen biết, với ý muốn mãnh liệt là làm vừa lòng anh ta. Khi về phòng chờ vào giữa hai màn kịch, cô cảm thấy bị cuốn hút, chừng như bồn chồn. Cô ngồi trong phòng giải lao và chờ đợi. Vài người quen thuộc qua lại ở chung quanh. Viên quản lý đang nói chuyện với Blanche Pierson, đối thủ của cô lúc ấy. Nhưng chẳng thấy bộ đồng phục màu vàng đen nào xuất hiện. Căng thẳng, sốt ruột, cô chạy đến chỗ người dẫn khách:

- Không ai hỏi tôi sao?

- Không thưa cô.

- Hôm nay là thứ tư và tôi chưa nhận được hoa violet. Phải chăng Bernard quên mang hoa lên cho tôi? Hay là có gì nhầm lẫn?

- Nhầm lẫn hả cô? Mà nhầm chuyện gì? Cô muốn tôi đến chỗ anh gác cổng không?

- Vâng, anh đi giúp… Hay thôi, khỏi. Lúc về tôi sẽ gặp anh Bernard.

Cô tự chế nhạo mình: “ Chẳng ra người ngợm gì cả! Suốt sáu tháng trời, ta không hề để ý mấy đến tình cảm chung thủy kín đáo thế kia rồi bỗng nhiên, vì sự mến mộ bị xem thường thiếu đi, nay ta lại cảm thấy bối rối như đang chờ đón người yêu… Ôi! Célimène, cô sẽ luyến tiếc Alceste (11) biết bao khi chàng rời bỏ cô với nỗi buồn phiền!”

Sau buổi diễn, cô ghé lại chỗ người gác cổng:

- Thế nào anh Bernard? Người yêu của tôi ! Anh không đưa anh ta lên sao?

- Thưa cô, cứ như là chuyện cố tình. Hôm nay anh ta không đến… Lần đầu tiên cô chấp thuận tiếp anh ta: cũng là ngày thứ tư đầu tiên từ sáu tháng nay anh ta không đến.

- Thật lạ kỳ! Anh có nghĩ là ai đó báo cho anh ta và anh ta ngại?

- Chắc chắn là không, thưa cô…Không ai biết là cô và tôi…Cô không nói gì?...Tôi cũng không…Thậm chí tôi cũng không cho vợ tôi biết nữa.

- Vậy thì anh giải thích thế nào?

- Tôi không giải thích được, thưa cô…Có những sự tình cờ…Có lẽ anh ta nản?...Hay là anh ta bệnh? Thứ tư tới ta sẽ biết.

Nhưng rồi thứ tư sau đó chẳng ai thấy chàng Bách khoa mà hoa violet cũng không.

- Làm sao bây giờ, anh Bernard? Anh có nghĩ là ta nhờ đám bạn của anh ta… Hoặc là nhờ ông tướng điều hành trường?

- Nhưng bằng cách nào được thưa cô? Chúng ta không biết cả tên anh ta nữa mà.

- Đúng vậy… Ôi, buồn quá! Mọi chuyện hỏng hết rồi, Bernard.

- Không đâu cô. Cả năm qua của cô tốt lắm, cô sắp đi lưu diễn; rồi sẽ thành công nữa… Nói cho cùng thì chẳng có gì hỏng hết!

- Ông nói phải. Tôi là kẻ vô tâm… Có điều là tôi rất yêu những bông hoa violet ngày thứ tư.

       Ngày hôm sau, Jenny rời Paris; Henri Stahl vẫn tận tình đi cùng cô. Đến khách sạn nào cô cũng thấy phòng mình đầy hoa hồng.  Lúc trở về lại Paris cô đã quên mất nhà toán học lãng mạn của mình.

  Phải đến một năm sau cô mới nhận được một lá thư của ông đại tá Genevrière nào đó xin gặp cô vì việc riêng. Thư viết chuẩn mực và nghiêm túc, không có lý do gì để từ chối lời yêu cầu được gặp. Jenny mời ông đại tá gặp cô tại nhà vào một chiều thứ bảy. Ông đến trong bộ thường phục màu đen. Cô tiếp ông với sự lịch thiệp duyên dáng phần do thói quen diễn xuất phần do bản tính, nhưng thái độ của cô, hết sức tự nhiên, như ngầm nói lên một thắc mắc: “ Không hiểu vị khách chưa quen biết này muốn gì ở cô đây?” Cô chờ đợi.

- Cám ơn cô đã tiếp tôi. Tôi không thể viết qua thư để giải thích mục đích cuộc viếng thăm này.  Nếu như tôi đã tự cho phép xin gặp cô, chẳng phải là sự đường đột của một người đàn ông, mà của một người cha… Cô thấy tôi mặc trang phục đen. Tôi đang để tang cho con trai tôi, trung úy André   Genevrière, đã chết ở Madagascar cách đây hai tháng.

Jenny làm một cử chỉ như muốn nói: “ Xin thành thật chia buồn, nhưng…”

- Cô không biết con trai tôi… Tôi biết điều đó… Nhưng nó biết cô và ngưỡng mộ cô… Chuyện này với cô có vẻ khó tin… nhưng những gì tôi sắp kể đây là sự thực. Cô là người mà con trai tôi ngưỡng mộ và yêu thương nhất trên đời…

- Tôi sợ là không hiểu được, thưa đại tá… Anh ấy nói với ông vậy sao?

- Nói với tôi? Không đâu. Nó chỉ nói với chị , đồng thời cũng là bạn tâm giao của nó. Mọi chuyện bắt đầu từ cái hôm hai chị em đi xem diễn vở Trò chơi của Tình yêu và sự Tình cờ… Xem về hai đứa con tôi cứ hào hứng nhắc đến cô mãi: “ Sự thẹn thùng tế nhị biết bao”, “ Lời thơ thật là cảm động…” Và cả ngàn chuyện khác nữa mà tôi tin là có thật, nhưng thêm vào đó là nhiệt tình của tuổi trẻ, sự khao khát cái tuyệt đối… Con trai tội nghiệp của tôi đúng là mơ mộng và lãng mạn.

- Trời ơi! Jenny thốt lên, vậy chính là chàng trai đã…?

- Vâng, thưa cô. Anh sinh viên Bách khoa mà cứ mỗi thứ tư trong suốt một năm mang đến tặng cô một bó hoa violet chính là André con trai tôi… Chuyện này cũng do con gái tôi cho biết… Tôi hy vọng là trò trẻ con này, mà thực chất là sự tôn vinh, không làm cô phật ý. Nó yêu cô nhiều lắm, hoặc có lẽ là yêu cái hình ảnh nó tạo ra từ cô… Phòng nó treo đầy ảnh cô trên tường… Con gái tôi đã mất công xoay xở để kiếm thêm nữa nơi các thợ ảnh. Ở trường bạn bè nó cứ chế giễu nó vì mối tình si này. Chúng bảo: “ Vậy thì viết thư cho cô ấy đi!”

- Và anh ấy không viết sao?”

- Có chứ, thưa cô, tôi mang đến đây cả xấp thư chưa bao giờ được gửi đi, nó mất rồi chúng tôi mới tìm thấy.

Ông đại tá lấy từ túi ra một gói nhỏ trao cho Jenny. Bà ấy có lần cho tôi xem, nét chữ nhỏ, phóng túng, khó đọc. Chữ viết của nhà toán học, văn phong của nhà thơ.

- Xin cô giữ lấy những lá thư này, chúng là của cô… Và xin lượng thứ cho hành động lạ lùng hôm nay… Tôi làm thế này để tưởng nhớ con trai tôi… Trong cái tình cảm mà cô đã gợi lên cho nó chẳng có gì là thiếu tôn trọng hay là nông nổi. Với nó cô là hiện thân của sự toàn bích và duyên dáng. .Và tôi đoan chắc là André xứng đáng với tình yêu cao cả của nó.

- Thế thì tại sao anh ấy lại không đòi gặp tôi? Mà tại sao tôi lại không tìm cách gặp anh ấy được nhỉ? Ôi, thật đáng trách quá! Tôi thật đáng trách quá!

- Cô đừng dằn vặt mình. Cô không thể nào tưởng tượng ra mọi chuyện đâu… Nếu như khi ra trường, André xin đi Madagascar chắc chắn chỉ vì cô thôi. .. Vâng, nó đã tâm sự với chị: “ Hoặc là nhờ xa cách em sẽ thoát khỏi được mối si mê vô vọng này, hoặc là em sẽ làm nên chuyện lớn, và lúc đó thì…”

- Nhưng mà tình cảm thủy chung, kiên trì và kín đáo như thế chẳng phải đã là chuyện lớn rồi sao?

Và, khi ông đại tá đứng dậy, cô cầm lấy tay ông:

- Tôi tin là mình đã không làm điều gì sai, tuy nhiên…Tuy nhiên tôi cảm thấy ngay chính mình phải có nghĩa vụ đối với người đã khuất, than ôi, chưa thỏa nguyện…

Thưa đại tá, xin ông vui lòng cho biết con trai ông được an táng ở đâu… Tôi xin thề là cho đến khi nhắm mắt, cứ đến ngày thứ tư, tôi sẽ mang một bó hoa violet đến đặt lên mộ anh ấy.

Léon kết luận: Thế đó, đấy là lý do tại sao mà bà Jenny của chúng ta, thường được cho là hay hoài nghi, thậm chí có người nói là lập dị, vậy mà đến ngày thứ tư là bỏ hết bạn bè, công việc, cả tình yêu nữa, để một mình đi đến nghĩa trang Montparnasse, đến bên mộ người trung úy chưa bao giờ quen biết…Các vị thấy là tôi đã có lý khi tôi nói rằng câu chuyện này quá đậm màu tình cảm với thời đại chúng ta.

Một thoáng im l;ặng, rồi Bertrand Schmitt lên tiếng:

Trên đời này vẫn cón điều thơ mộng cho những ai xứng với nó.





        THÂN TRỌNG SƠN dịch và giới thiệu



( Les violettes du mercredi )













(1)Nhân vật nữ chính trong vở “Le misanthrope “ – Kẻ ghét đời – của Molière.          
(2)Comédie- Française, còn gọi là Théâtre – Français, thành lập từ năm 1680, có riêng một đoàn diễn viên – năm 2013 gồm 60 người-
(3)Répertoire – Hiện nay kịch mục của Nhà hát kịch này có đến 3000 vở diễn.
(4)Boulevard: Nhóm hài kịch bình dân, dễ dãi.
(5)Francisque Sarcey, nhà phê bình kịch nghệ Pháp (1827-1899)
(6)Honoré de Balzac, nhà văn Pháp (1799-1850), tác giả của bộ tiểu thuyết Tấn trò đời ( la Comédie humaine )
(7)Alexandre Dumas fils, kịch tác gia Pháp (1824-1895), cũng là tiểu thuyết gia, với tác phẩm  nổi tiếng  La dame aux Camélias ( Trà hoa nữ ). Con của Dumas cha ( Alexandre Dumas père) 1802 -1870, tác giả các tiểu thuyết Bá tước Monte Cristo, Ba người lính ngự lâm.
(8)Polytechnicien, sinh viên École Polytechnique, trường đào tạo kỹ sư, thành lập năm 1794, trực thuộc Bộ Quốc phòng. Khóa đào tạo của sinh viên bắt đầu bằng 8 tháng huấn luyện quân sự. Biệt danh là (trường) X.
(9)Palais- Royal, ám chỉ quảng trường Palais – Royal, nơi có đặt một đại bác nhỏ bằng đồng, kích hoạt bằng ánh nắng mặt trời, đúng giữa trưa sẽ phát nổ.
(10)                    Hài kịch của Alfred de Musset (1810-1857)
(11)                     Alceste, nhân vật nam chính trong vở le Misanthrope ( Kẻ ghét đời ) của Molière.