mercredi 13 février 2019

TỪ DE PÈRE INCONNU ĐẾN CHA VÔ DANH




            

1. CHA VÔ DANH.


Nhan đề phụ là “ Chuyện kể cuộc đời một người Việt lai Pháp “, từ lúc mới sinh ra ( 1944) cho đến lúc tác giả hoàn thành tác phẩm ( 2018 ). Tất nhiên, cuộc đời một người gắn liền với thời đại và nơi chốn anh ta sống, liên quan đến thân nhân, bạn bè, đồng nghiệp, láng giềng... , tất cả những người quen biết cùng sống với anh ta. Tuy thời gian kéo dài như thế, với số lượng nhân vật đông đảo như thế, tác giả vẫn lôi cuốn người đọc bằng sự chọn lọc tinh tế những chi tiết được kể, bằng giọng văn nhẹ nhàng, giản dị mà không kém trau chuốt, bóng bẩy. Kể chuyện đời mình, tác giả không theo trình tự thời gian, lớp lang sau trước, mà theo dòng cảm xúc dẫn dắt người đọc từ một việc gần đây bỗng thụt lùi hai ba chục năm trước hoặc ngược lại. Kể chuyện đời mình, ít nhiều tác phẩm có tính chất một tự truyện, nhưng người đọc nhiều lứa tuổi, trình độ hiểu biết và nền tảng văn hoá khác nhau vẫn hào hứng theo dõi khi tác giả công bố dần dà ( theo nhịp độ viết ) trên facebook và blog cá nhân, mỗi lần một đoạn theo kiểu viết feuilleton. Và hẳn ai cũng mong thấy tác phẩm được xuất bản để có thể đọc liền mạch, khỏi thấp thỏm chờ đợi.   
Cuối năm 2018, tôi may mắn được đọc “ bản in thử “, hơn 400 trang trên cỡ giấy A4. Không đủ thời gian và trình độ để viết một review đầy đủ, tôi xin ghi lại đây đôi điều cảm nghĩ từ một người đọc trân trọng công sức và tài năng người viết.

Điều đáng nói đầu tiên là bất cứ ai đọc tác phẩm sẽ không khỏi ngạc nhiên và thán phục trước trí nhớ phi thường của tác giả: anh nhớ và kể lại tường tận tất cả những gì xảy ra từ thời đi học, tiểu học và trung học, tại Hà Nội và Đà Lạt, với đầy đủ thầy và bạn, chuyện học hành, vui chơi, giải trí. Sau đó là chuyện tốt nghiệp đại học, công việc làm, những biến cố của cuộc đời đi kèm biến cố lịch sử đất nước từ năm 1975, chuyện đi định cư ở Pháp rồi những chuyến về lại quê hương từ hơn hai mươi năm nay. Trí nhớ đó được sự trợ giúp hữu hiệu của hình ảnh và ghi chép mà không hiểu sao anh lưu giữ tài tình đến thế. ( Chỉ tiếc là ba tập vở học trò anh ghi chép tháng ngày “ học tập cải tạo “ đã bị thất lạc dù đã được gởi sang Pháp - nếu không sẽ là những trang viết quý giá.).

Đấy là những chuyện liên quan trực tiếp đến chính anh, còn chuyện của các nhân vật khác, có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của anh thì anh dùng thủ thuật “ chuyện kể của nhân vật “ để ghi nhận sự kiện. Có ba nhân vật chính đã kể chuyện kiểu này: người mẹ, bà ngoại và người cha dượng. Anh đã viết về bà mẹ qua các đoạn 2 ( Cô gái mồ côi hận đời - 1934 ), đoạn 3 ( Phải chăng là bốc đồng - 1943 ), nhảy qua vài đoạn để trở lại với đoạn 11 và 13. Qua chuyện kể của bà mẹ, anh đã dựng lại những chi tiết cặn kẽ về cuộc đời đấy sóng gió và gian truân của người thân yêu nhất của anh. Đọc những trang này, người đọc có thể thấy rằng ngoài lời kể chuyện của nhân vật, thấp thoáng có sự can thiệp của tác giả, tức là sử dụng thủ pháp “ nhân vật - người kể chuyện “, personnage - narrateur, xen kẽ với “ tác giả - người kể chuyện “ , auteur - narrateur . Điều này rõ ràng hơn với “ chuyện kể của cha dượng “, suốt những đoạn 8, 9 và 10. Kể chuyện gia đình vào những năm chiến tranh ( từ 1945 ), rồi chuyện tản cư, hồi cư, anh say sưa nói rất dài 
( về đảo chính Nhật, cách mạng tháng tám, các đảng phái chính trị, các nhân vật lịch sử  Bảo Đại, Hồ Chí Minh )...

Tất nhiên tôi hiểu thiện ý của anh muốn lồng câu chuyện đời mình trong bối cảnh lịch sử, giúp người đọc hiểu thêm về một giai đoạn cần được tìm hiểu và giải thích từ nhiều góc nhìn khác nhau. Nhưng nói nhiều như thế làm cho ý nghĩa của chuyện kể của cha dượng giảm bớt phần đáng tin ( vraisemblable ). Giá mà anh lược bớt đi, để dành phần lớn chi tiết cho phần Ghi chú ở cuối sách!  

Phần này, anh ghi là Chú thích, thực chất là những ghi chú lịch sử, địa lý và văn hoá. Trong bản in thử, anh đã dành ra 33 trang chữ nhỏ để viết đến 149 ghi chú, giải thích nhiều vấn đề khác nhau về ba lĩnh vực nói trên, căn cứ vào những tư liệu, chứng cứ và tham khảo phong phú từ nhiều nguồn đáng tin cậy, đặc biệt là những nguồn khó tiếp cận, mà bằng kinh nghiệm của một người từng làm công tác nghiên cứu để viết luận án muốn chia sẻ với độc giả. Ghi chú liên quan đến địa lý, giải thích các địa danh nổi tiếng và chưa nổi tiếng, Hà Đông, Hà Nội, Lạng Sơn, Ban Mê Thuột, Đèo Cả, Sông Gianh, Bà Điểm... Ghi chú về lịch sử phong phú hơn và đầy bất ngờ, từ các nhân vật lớn ( Bảo Đại, Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm, Vua Thành Thái, Trương Vĩnh Ký , Yersin, Alexandre de Rhodes, Kennedy, Nguyễn Văn Thiệu...) đến các sự kiện quan trọng ( về thời Đệ Nhất, Đệ Nhị Cộng Hoà, các cuộc đảo chính, phong trào đấu tranh đô thị, hiệp định Paris, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam... ) và bao nhiêu việc lớn nhỏ khác. Ghi chú về văn hoá, các danh nhân, nhạc sĩ, các ca khúc, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ... ). Thật lạ lùng, không thiếu một thứ gì, bằng những lời giải thích ngắn gọn, súc tích, đủ để thoả mãn sự tò mò muốn tìm hiểu của người đọc.
Phần chú thích này có thể được đọc độc lập, tách khỏi cuốn truyện, mà không hề nhàm chán.

Tách phần chú thích ra, để dành thời gian mà đọc chính tác phẩm 74 đoạn, không theo kiểu đọc ngấu nghiến, mà thong thả nghiền ngẫm từng đoạn một, để thưởng thức, hồi hộp, ngạc nhiên, bật cười rồi lắng đọng, chìm trong tận cùng cảm xúc qua phận người lận đận, vận nước nổi trôi, tất cả qua ngọn bút tài hoa của người dược sĩ, thầy giáo, nhạc sĩ, ca sĩ “ thấm nhuần hai nền văn hoá Việt - Pháp.”

74 đoạn này có thể có thêm một nhan đề phụ nữa là : Chuyện kể cuộc truy tìm tung tích người “ cha vô danh “, công việc mà nhân vật chính, cũng là tác giả, đã thực hiện từ lúc ông mới đặt chân sang đất Pháp, có lúc gián đoạn, rồi lại tiếp tục và kết thúc trong tuyệt vọng khi ông nhận được câu trả lời của cơ quan lịch sử quân đội Pháp là không thể tìm ra hồ sơ cá nhân của người ông muốn tìm ( tháng 11/2008 ). Cuối cùng, tác giả phải ngậm ngùi thốt lên: “ Cha tôi không muốn cho tôi biết ông là ai, ông muốn tiếp tục là người cha vô danh.” ( kết thúc đoạn 74 ). 

Lẽ nào điều đó lại xảy đến với một người nặng tình quê hương, thiết tha gắn bó với gia đình, một người xa quê lâu năm lúc có dịp trở về là làm ngay các cuộc “ hành hương “ về với kỷ niệm, nơi sinh ra, nơi sống những ngày tuổi thơ xa lơ xa lắc? 
Nếu đây là một tác phẩm hư cấu, độc giả mong muốn có một happy ending, một cái kết có hậu hơn. Còn nếu đây là chuyện kể “ về những người có thật đã sống trên đất nước Việt Nam “ thì độc giả lại càng mong muốn công sức của người truy tìm phải được đền đáp, sự thiệt thòi mất mát của người có lòng phải được bù đắp. Cho hợp lẽ trời, cho thuận lòng người!

Đọc hết 74 đoạn, độc giả tưởng chừng sẽ gấp sách lại với tâm trạng ngậm ngùi như chính tác giả với câu cảm thán nhắc đến bên trên.

Nhưng mà KHÔNG! 
Tiếp theo sau đó còn có mấy trang nữa, tác giả không ghi đoạn 75 mà là LỜI CUỐI. Và đây là bất ngờ thú vị không hề chờ đợi, không thể tưởng tượng nổi dành cho mọi người. Đến lúc hầu như không còn chút hy vọng gì và đành chấp nhận bỏ cuộc thì anh được người có trách nhiệm ở kho lưu trữ, sau khi tìm kiếm, chính thức báo tin “ Tôi tìm ra hồ sơ cá nhân của cha ông rồi.” Đây là thông tin chính xác tuyệt đối, nhờ đó anh đã lần theo dấu vết người cha, tìm ra lai lịch, quê hương, gia đình, và nhờ những hình ảnh, kỷ vật gia đình lưu giữ, anh đã dựng lại tiểu sử người thân của mình, đã tìm gặp gia đình, chú bác, anh chị em họ. Và thuyết phục hơn hết thảy là anh đã công bố ảnh của người cha lúc 25 tuổi và ảnh chính tác giả tức là người con, lúc 24 tuổi. Cùng một khuôn mặt, mũi miệng mắt trán giống hệt nhau! 

Đoạn “ lời cuối “ này là những trang viết cảm động nhất, gây ấn tượng mạnh nơi người đọc. 
Sở dĩ câu chuyện chuyển hướng bất ngờ thế này là do việc anh trở lại lâu đài Vincennes, tức là văn khố của quân đội Pháp, cốt để tặng thư viện ở đây cuốn sách anh mới xuất bản, bởi nhiều người làm việc ở văn khố đã từng giúp đỡ anh nhiệt tình và chu đáo trong suốt bao nhiêu năm tìm kiếm. Lần này thì anh được toại nguyện. ( Sự việc xảy ra vào tháng 4/2015, hai tháng sau khi xuất bản cuốn sách ).

Cuốn sách nói đến đây là DE PÈRE INCONNU, do chính anh viết bằng tiếng Pháp, được nhà xuất bản L’ Harmattan công bố vào tháng 2/2015. 
CHA VÔ DANH chính là phiên bản tiếng Việt,  “ không phải là bản dịch từ tiếng Pháp, mà là cuốn sách viết bằng tiếng Việt bởi một người Việt cho người Việt đọc”. 


2. DE PÈRE INCONNU
Chuyện kể về đất nước Việt Nam nửa sau thế kỷ XX.

Cuốn sách tiếng Pháp ra đời trước có nhan đề phụ như trên, tức là khác với phiên bản tiếng Việt, đơn giản vì đối tượng nhắm đến hoàn toàn khác ( thế hệ trẻ người Việt sống ngoài nước, giúp họ hiểu thêm quê hương của tổ tiên mình ). 
Vẫn là câu chuyện truy tìm tung tích người cha vô danh ( À la recherche du père inconnu ) được tác giả thuật lại trong bốn phần, anh gọi là hồi ( acte ), hồi 1 ngay đầu sách, ba hồi còn lại dồn hết vào phần cuối. Còn lại là những chuyện kể, được trình bày như những chương ( chapitre ) tương đối ngắn, có thể đọc riêng rẽ. 

Cũng do đối tượng độc giả được xác định như thế nên trong 500 trang của cuốn sách, tác giả luôn lưu tâm nhắc đến, giải thích, có khi bình luận, những vấn đề về văn hoá Việt Nam, bên cạnh những sự kiện lịch sử tất nhiên không thể thiếu. Anh nói về truyền thống dân tộc, việc thờ cúng tổ tiên, tình cảm gia đình, quan hệ láng giềng, làng mạc... Rất thú vị khi đọc về Tết cổ truyền, bánh chưng, bánh tét, các loại mứt ( trang 168, 169 ), thậm chí cả rau muống luộc ( t 122 ), tiết canh vịt ( t 123 ). Rồi các quan niệm về hôn nhân, chuyện môn đăng hộ đối ( t 35 ), hôn nhân khác tôn giáo, các nghi thức hôn lễ ( t 36 ). Làm sao giải thích khái niệm “ làm dâu “ cho một bạn trẻ Pháp gốc Việt hiểu? Anh nói giản dị: “ Vivre avec la grande famille du mari pour la servir en tant que bru”.Thật tài tình mấy chữ “ pour la servir “ ! Anh không bỏ lỡ cơ hội để giải thích mọi chuyện lớn nhỏ, “ xe ôm “ chẳng hạn. Thật khó, phải không? Anh phải dịch, littéralement, “ véhicule où il faut enlacer “, “ véhicule où il faut serrer dans ses bras “. Vậy thôi, ( tôi đề nghị thêm vào moto-taxi ).

Ngay cả chuyện tình yêu, anh cũng nhìn bằng con mắt dân gian. Chương “ Peut-on résister au destin?” trang 209, ngoài chuyện học hành thi cử ở đại học là chuyện anh tình cờ gặp cô gái ở Saigon, khi anh đi dạy kèm về tình cờ đi ngang chỗ nàng tạm nghỉ trong lần từ Đà Lạt về chơi. Gặp rồi nói chuyện, nhận ra đã quen biết, thư từ qua lại sau đó, và bén duyên nhau. Trước đó nhiều năm, cả hai cùng sống ở thành phố hoa, có lúc là láng giềng khi cùng ở trên đường Graffeuil, nàng đã có lần đi xem anh đấu bóng chuyền, vậy mà chưa một lần gặp gỡ chuyện trò. Còn lần này thì tình cờ quá đỗi mà nên vợ nên chồng. Anh nói chỉ là “duyên số” thôi!

Những điều bên trên là dành cho bạn đọc ham hiểu biết, còn những người yêu văn chương lại có mối quan tâm khác. Và họ không khó khăn để nhận ra nét chủ đạo của ngòi bút PHẠM NGỌC LÂN. Kể chuyện nửa thế kỷ, đầy ắp sự kiện, ngồn ngộn biến cố, anh vẫn không quên cốt lõi tác phẩm là nhân vật chính anh nêu ngay trong nhan đề sách. Dấu ấn của nhà văn có tài là việc chọn lọc CHI TIẾT, tưởng là nhỏ nhặt, thoáng qua, nhưng thực ra là điểm mở nút thắt ( dénouement ) tài tình. 

Anh ra đời trong hoàn cảnh nào? Trong các chương “Récit d’une mère “, anh để bà mẹ thuật lại cuộc đời đầy sóng gió từ lúc mới sinh, nhắc đến ông bà ngoại, tuổi thơ vất vả, tình yêu dang dở, cuối cùng, qua sự giới thiệu của bạn, chấp nhận làm quen,  đồng ý kết hôn sau khi gia đình nhận lễ vật của một sĩ quan Pháp dù chỉ mới trao đổi thư từ, hình ảnh. Bằng một quyết định bất ngờ ( anh gọi là coup de tête ), bà một thân một mình tìm đến với chàng trai trên một hòn đảo nơi chưa hề nghe tên. Và cũng lạ lùng nữa, bà bỏ ra về chỉ sau mười bảy ngày sống chung ở đó. Không giải thích lý do. Và sau đó, không liên lạc, tin tức gì nữa. Kết thúc câu chuyện dài này là tiết lộ gọn lỏn: “ J’ étais enceinte .” ( Mẹ đã mang thai. )

Từ chi tiết mịt mù thân phận đó mới dẫn tới cuộc truy tìm tung tích người cha của nhân vật chính, với nhiều công sức, mất nhiều thời gian, gần ra manh mối rồi lại rơi vào ngõ cụt. Người đọc thắc mắc, lẽ nào ngoài cái tên của người cha ra, bà mẹ không để lại cho anh một chứng cứ gì khác sao? Mẹ đã kể là có viết thư, gởi ảnh cho nhau kia mà? Anh giải đáp thắc mắc này một cách khéo léo bằng một chi tiết trong đoạn “ chuyện kể của bà ngoại “. Đó là thời kỳ gia đình chuyển vào sống ở Saigon, gặp lúc chiến tranh, tối nào cũng bị máy bay ném bom. Cả nhà phải tìm chỗ ẩn nấp buổi tối. Bà ngoại tìm được chỗ nấp an toàn hơn, nhà một gia đình người Pháp. Cứ tối tối là chạy đến đó, không quên mang theo chiếc va-li nhỏ đựng giấy tờ và những thứ quý giá nhất. Một tối, nhà đó bị trộm, cả nhà ra về không kịp lấy chiếc va-li. Lúc trở lại định lấy mới biết cảnh binh thu hết để điều tra, bà sợ liên luỵ nên không dám lấy nữa.
“ C’est ainsi que ta mère perdit toute trace de ton père, car dans cette valise, il y avait toutes les lettres, les photos, les cadeaux... tout ce qu’elle avait de lui.” ( trang 50 ).
( Và như thết, mẹ con đã mất hết vết tích của ba con, vì trong chiếc va li đó là tất cả thư từ, hình ảnh, quà cáp... tất cả những gì mẹ lưu giữ của ba con. )

Cái cách sử dụng những chi tiết rất “ đắt “ như thế khiến ta liên tưởng đến một bậc thầy truyện ngắn của văn học Pháp là Guy de Maupassant.

Từ De père inconnu đến Cha vô danh, câu chuyện có những nét tương đồng, nhưng cách diễn đạt khác, cách khai thác đậm nhạt khác, tuỳ đối tượng độc giả, cho nên ban đầu tưởng là truyện tuy hai mà một, nhưng đọc kỹ, hoá ra tuy một mà hai. Và cả hai tác phẩm, tiếng Pháp và tiếng Việt, đều cho thấy tài năng một nhà văn đích thực. Tài năng đó, chủ yếu thể hiện ở tính sáng tạo. Không có sáng tạo, nội dung có phong phú đến đâu, văn phong có lưu loát đến đâu, cũng không đủ làm nên giá trị của tác phẩm.

3. BẢN PHÁC THẢO ĐẦU TIÊN.

Tôi không quá lời khi nhận định như thế: 

 Khoảng chục năm trước khi khởi công viết De père inconnu, Phạm Ngọc Lân đã gởi về cho thân hữu tin cậy nhất của mình bản thảo đầu tiên của tập truyện. Đây là bản đánh máy vỏn vẹn 40 trang, gồm các phần sau.

Mở đầu là “ Retrouvailles manquées.”
Kể chuyện nhân vật đi tìm tung tích cha lần đầu tiên khi đến lâu đài Vincennes, dẫn đến manh mối thứ nhất: tìm ra người trùng tên, anh đến thăm mộ nhưng vẫn hồ nghi có phải là cha mình đây không.

Sau phần này là các chuyện kể của bà mẹ, bà ngoại, cha dượng.
Récit d’une mère. Récit d’une grand-mère. Récit d’un beau-pėre.
Các chuyện kể này còn sơ sài chỉ ghi những nét chính.
Xen kẽ giữa những phần chuyện kể là các đoạn tường thuật những chuyến anh về Việt Nam, chia làm ba phần, anh gọi là Hành hương ( pèlerinages ). Đây là chuyến đi xuyên Việt anh thực hiện cùng vợ chồng cô em, qua Tây nguyên, ra miền Trung và đến tận Ninh Bình, Phát Diệm, ngoài Bắc. Phần 1 trọng tâm là thăm đảo Bình Ba, nơi mẹ anh gặp cha anh. Phần 2 là lúc về thăm quê ngoại Hà Hồi. Phần 3 nói riêng về Hà Nội và những thắng cảnh của thành phố này. Bản thảo kết thúc với chuyện kể anh tìm đến trường tiểu học Sainte- Marie , nơi lần đầu tiên anh đi học, và giờ này biến thành bệnh viện.

Tất cả chỉ có thế. 

Dựa vào đó, tác giả đã dụng công sửa chữa, bổ sung, phát triển rất nhiều, ngay từ những chi tiết nhỏ. Trong bản sơ thảo, bà mẹ kể chuyện tiết lộ thân phận của nhân vật khi anh 15 tuổi ( Tu avais 15 ans ), lúc viết chính thức, anh sửa lại 17. ( Tu avais dix-sept ans ).
Ban đầu, anh cũng do dự, chưa biết chọn nhan đề nào cho cuốn sách. 
Citoyen de nulle part?
Hay là L’homme aux quatre identités?
Cái titre sau hơi khó hiểu, chỉ biết được khi đọc tác phẩm chính thức, ở chương Les quatre identités, từ trang 137, đấy là anh nói chuyện mình thay tên đổi họ, thay đổi quốc tịch.
Đầu tiên là quốc tịch Pháp, tên họ Pháp, sau đó nhập tịch Việt Nam, tên họ Việt, có tên mẹ nhưng không có tên cha. Lần thứ ba, năm 1958, làm lại Chứng thư thay giấy khai sinh, lần này đổi họ theo họ cha dượng, và khai tên cha dượng. Cuối cùng, lúc đã sang Pháp lấy lại tên Pháp, quốc tịch Pháp. Bốn lần thay đổi, bốn identité khác nhau. Bản tiếng Việt ( Cha vô danh ) anh dịch identité là “ bản sắc “ ( đoạn 27, Bản sắc và giấy tờ ). Trong ngữ cảnh này, đây là một thuật ngữ pháp lý, theo định nghĩa của Larousse : “ personnalté civile d’un individu, légalement reconnue ou constatée “. Nghĩa này thấy dùng ở pièces d’identité, carte d’identité. Tôi thích dùng “ căn cước “ hơn.

Thế đó, từ bản phác thảo đơn giản, sơ sài đến tác phẩm hoàn chỉnh, phân thành chương hồi, ra mắt bạn đọc qua nhà xuất bản l’ Harmattan có uy tín. Mất đến 8 năm để hoàn thành cuốn sách, trong điều kiện vẫn làm việc, sinh hoạt bình thường, chẳng phải là thành quả của một nhà văn Việt, viết bằng ngôn ngữ Pháp, xứng đáng được phổ biến rộng rãi, mở đường cho phiên bản tiếng Việt, Cha vô danh, sắp xuất bản hay sao?



THÂN TRỌNG SƠN
Đà Lạt, 1/2019.






mercredi 2 janvier 2019

MẨU CHUYỆN NHỎ






Truyện ngắn
Lỗ Tấn
Lu Xun 魯迅
( 1881 - 1936 )



       Lỗ Tấn sinh năm 1881 tại Thiệu Hưng, Chiết Giang, trong một gia đình nho học. Tên thật là Chu Chương Thọ ( 周樟寿), bút danh đầu tiên là Chu Thụ Nhân ( 周树人 )
        Cha mất sớm, có thể là do bệnh lao, sau thời gian chạy chữa thuốc men, tốn kém nhiều vẫn không qua khỏi. 
           Năm 17 tuổi, bà mẹ gởi đi học ở Nam Kinh, trường thuỷ quân, sau chuyển sang trường cầu đường. Nơi đây, Lỗ Tấn được tiếp thu những môn học mới, như vật lý, hoá học, và cả văn học phương Tây. Tốt nghiệp trường này, Lỗ Tấn được cấp học bổng đi Nhật học. Ban đầu, ông học tiếng Nhật, và tiếng Đức, sau hai năm, vào học trường y ở Tiên Đài, ông là sinh viên nước ngoài duy nhất của trường.
             Năm 1903, bà mẹ gọi ông về gấp vì đau nặng, thực ra là để ép ông cưới vợ, một phụ nữ thất học. Ông đành chấp nhận, nhưng bỏ đi về Nhật ngay sau bốn ngày.
            Một sự kiện xảy ra trong thời gian này tạo ra một ngả rẽ trong cuộc đời ông. Trong buổi xem chiếu phim về chiến tranh Nga - Nhật, ông nhìn thấy cảnh một người dân Trung Quốc bị trói tay còng chân sắp bị hành hình vì bị cho là làm gián điệp cho Nga, thế mà một số người Trung Quốc lạnh lùng đứng xem. Lỗ Tấn nghiệm ra rằng việc chữa bệnh tinh thần cho người Trung Quốc còn cần kíp hơn chữa cái thân thể suy yếu của họ.” 救国救民需先救思想” ( cứu quốc cứu dân nhu tiên cứu tư tưởng ). Muốn chữa cho tinh thần được lành mạnh thì ngoài văn nghệ ra không có thuốc gì. 
             Năm 1906, ông bỏ học ngành y và bắt đầu hoạt động văn nghệ. Cùng vài người bạn đồng hương, ông lập ra nhật báo 新生 ( Tân sinh ) nhưng thất bại. Năm 1908, ông gia nhập Quang phục hội, và  bắt đầu dịch các tác phẩm văn học châu Âu. Sau đó, ông viết các tiểu luận về văn học Trung Quốc, châu Âu, nghiên cứu xã hội, tôn giáo Trung Quốc ...
          Năm 1909, vì hoàn cảnh gia đình, ông từ chối học bổng đi Đức và về nước.
         Ông dạy lý hoá ở trường trung học Thiệu Hưng, có thời gian làm hiệu trưởng trường sư phạm Thiệu Hưng. Hoạt động dạy học của ông trải dài nhiều năm tại các trường cao đẳng và đại học ở Bắc Kinh và Phúc Kiến.

          Sự nghiệp sáng tác của Lỗ Tấn bắt đầu với truyện ngắn “ Nhật ký người điên “, đăng ở tạp chí Tân thanh niên. Lấy tên dựa vào truyện “ Nhật ký của một người điên”  ( Записки сумасшедшего ) của nhà văn Nga Gogol ( Николай Васильевич Гоголь ) , tác phẩm này công kích mạnh mẽ chế độ gia tộc phong kiến và đạo đức lễ giáo cũ Trung Quốc. Nhân vật người điên là người mắc bệnh “ bách hại cuồng “ trông thấy cái gì cũng tưởng là có người sắp hại mình, qua đó, lên án lịch sử 4000 năm chế độ  phong kiến Trung Quốc là lịch sử ăn thịt người, thực chất của cái gọi là “ nhân nghĩa, đạo đức “ phong kiến chỉ có mấy chữ “ ăn thịt người “. 
Qua con mắt người điên, cuộc sống dưới chế độ phong kiến thật là đáng sợ, con người lúc nào cũng nơm nớp đề phòng, người với người là lang sói  “mình thấy rõ trong lời nói của họ có thuốc độc, trong  giọng cười của họ có dao găm. Răng thì nhăn ra trắng hếu. Toàn là bọn ăn thịt người”. Rõ ràng, trong bối cảnh ấy, nhân dân lao động phải chịu đựng một cuộc sống cơ cực về vật chất và tối tăm về tinh thần

Nhật ký người điên “ nhanh chóng gây tiếng vang, tạo bước ngoặt trong sự nghiệp văn chương của Lỗ Tấn, được xem như sáng tác căn bản của văn học mới Trung Quốc. Đây cũng là lần đầu ông ký bút danh Lỗ Tấn, - Lỗ là họ mẹ.

     Lỗ Tấn tiếp tục khuynh hướng công kích xã hội phong kiến với một loạt truyện ngắn khác in trong tuyển tập “ 吶喊 “  ( Nột hám ). Nột hám, nghĩa đen là hò reo, chỉ tiếng hò reo trong hát tuồng. Trong hát tuồng, có những quân lính cầm cờ đi theo ông tướng, gọi là “ chạy hiệu “, thường đồng loạt phát ra những tiếng hò reo. Tuyển tập Nột hám, bản tiếng Việt dịch là Gào thét, gồm 14 truyện, trong đó có tác phẩm nổi tiếng “ Q正传 “, “A Q chính truyện “ 

Khác với Nhật kí người điên,  AQ chính truyện lại là tiếng kêu xé lòng của những người thuộc tầng lớp bần nông dưới xã hội cũ. AQ không có nhà cửa, không ruộng vườn, không nghề nghiệp, không họ hàng thân thích thậm chí không có nổi một cái tên. Quanh năm, ai thuê gì thì làm nấy, Y phải lao động cật lực để nuôi sống bản thân mình.Y quần quật làm thuê mà vẫn không đủ ăn, không đủ mặc, lại bị nhà Cụ Cố nhà họ Triệu bóc lột sức lao động đến tàn tệ, bị mọi người khinh thường thậm chí có lắm khi y còn bị tước cả cái quyền làm thuê. Cuộc đời AQ là một chuỗi ngày đau khổ bất hạnh. Có lẽ chính vì vậy mà y đã tìm ra phép thắng lợi tinh thần để an ủi mình trong những lúc bị bắt nạt, bị đánh đập, bị hành hạ. “Phép thắng lợi tinh thần” là biểu hiện rõ nét của sự đầu hàng, đầu hàng kẻ áp bức mình, đầu hàng số phận, và đầu hàng cả bản thân mình. Truyện đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. 
Tháng  năm 1924, Lỗ Tấn bắt đầu mắc bệnh lao. Từ 1934 đến 1926, ông viết nhiều tiểu luận, tập hợp lại thành tuyển tập “ 朝花夕拾 “ ( Triêu hoa tịch thiệp, Hoa ban sáng hái buổi chiều ), một tập thơ văn xuôi, “ Cỏ dại “ ( 野草, dã thảo ), và một tập truyện ngắn khác “ Bàng hoàng “ ( 彷徨 ). Tất cả tác phẩm của giai đoạn này đều nhuốm màu buồn thảm, đôi chút cay đắng, có thể do thất vọng về chính trị, phần nào do việc rạn vỡ quan hệ với em trai.
Từ 1928 cho đến khi mất,  ông viết tập truyện ngắn “ Chuyện cổ viết lại “, ” 故事新编“ Cố sự tân biên,  Lược sử tiểu thuyết Trung Quốc “ ( 中国小说史略), gồm những bài giảng của ông tại Đại học Bắc Kinh, được xem như tác phẩm phê bình văn học chủ yếu của Trung Quốc thế kỷ XX. Cũng thời gian này, ông xuất bản nhiều bản dịch tác phẩm tiếng Nga, nhiều nhất là tác phẩm của Gogol. 
Năm 1936, bệnh lao khiến ông suy yếu dần và qua đời tháng 10 năm đó.

Trong nền văn học Trung Quốc hiện đại, Lỗ Tấn có một vị trí quan trọng, ông đã góp phần vào việc cách tân các thể loại, từ văn xuôi, thơ, đến dịch thuật, thậm chí vả phê bình.


——————


Từ khi tôi rời làng quê lên xứ kinh thành thấm thoắt đã sáu năm trôi qua. Trong thời gian này, tôi đã mắt thấy tai nghe đủ thứ chuyện gọi là việc nước việc nhà, nhưng chẳng có việc gì gây cho tôi chút ấn tượng nào. Bây giờ nếu ai hỏi chúng có ảnh hưởng gì không, tôi có thể nói rằng chúng chỉ làm cho tôi thêm bực tức và thiệt tình là khiến tôi ngày càng chán ghét mọi người thôi.

Vậy mà, có một việc nhỏ tôi thấy có ý nghĩa, kéo tôi ra khỏi trạng thái bực tức, khiến tôi không sao quên được mãi đến tận bây giờ.

Chuyện xảy ra vào một ngày mùa đông 1917. Gió bấc rét buốt đang thổi mạnh, tôi vì sinh kế phải dậy sớm đi ra ngoài. Trên đường hiếm thấy có bóng người, khó khăn lắm tôi mới gọi được một xe kéo đưa tôi đến Cửa S - Lúc này, gió đã dịu bớt, quét sạch bụi trên đường, để lại con đường sạch bóng, người phu xe chạy nhanh hơn. Vừa đến gần Cửa S, có người nào đó băng qua đường, vướng vào càng xe và chầm chậm ngã xuống.
Đó là một người đàn bà mái tóc hoa râm, áo quần rách rưới. Bà từ lề đường vụt chạy ngang qua trước cái xe, người phu xe đã cố tránh, nhưng cái áo khoác của bà không cài cúc, phất phơ theo gió, vướng vào càng xe. May mà người phu xe đã vội ngừng kịp, nếu không bà đã ngã nặng và thế nào cũng bị thương.
Bà ta nằm dưới đất, người phu xe dừng lại. Tôi chắc rằng bà già ấy không bị thương tích gì, lại không có ai chứng kiến sự việc xảy ra, nên tôi không bằng lòng lắm thái độ của người phu xe, tự mình chuốc lấy phiền toái, và làm chậm việc của tôi.

“ Ổn cả thôi mà “, tôi nói, “ anh chạy tiếp đi! “
Tuy nhiên, anh ta chẳng để ý gì, có lẽ không nghe thấy. Anh đặt càng xe xuống và nhẹ nhàng giúp bà già ngồi dậy. Đỡ lấy cánh tay bà, anh hỏi:
“ Bà không sao chứ?”
“ Tôi bị thương rồi.”

Tôi đã nhìn thấy bà ngã xuống chậm thôi, và hẳn là không thể nào bị thương được. Bà làm bộ thế thôi, thật là tồi tệ. Anh phu xe tự chuốc khổ vào thân, giờ thì lãnh đủ. Anh phải tự xoay xở lấy thôi.

Nhưng anh ta chẳng ngần ngại phút nào sau khi bà già nói bà bị thương. Anh dìu bà  chậm rãi đi tới. Tôi rất ngạc nhiên. Nhìn ra phía trước, tôi thấy một đồn cảnh sát. Gặp lúc trời gió lớn, không có ai bên ngoài, anh phu xe giúp bà già tiến gần đến cổng đồn.

Bỗng nhiên, tôi có một cảm giác lạ kỳ. Cái bóng đầy bụi bặm phía sau người phu xe kia chợt cao lớn lên. Và anh càng bước tới lại càng thấy lớn hơn, phải ngước nhìn mới thấy. Cùng lúc đó, có vẻ như anh đang thể hiện một uy lực đối với tôi, khiến lấn át cả cái tôi nhỏ bé dưới lớp áo da.
Sức sống của tôi chừng như ngừng lại, tôi ngồi bất động, đầu óc trống rỗng, cho đến khi người cảnh sát đi ra mới bước khỏi xe.
Người cảnh sát tới gần tôi nói: “ Ông gọi xe khác đi. Anh ấy không chạy cho ông được nữa đâu.”

Chẳng nghĩ ngợi gì, tôi vốc trong túi một nắm tiền xu đưa cho người cảnh sát và nói: “ Nhờ anh đưa cho anh ấy! “
Gió đã lặng hẳn, con đường vẫn yên tĩnh. Tôi vừa đi vừa suy nghĩ, nhưng hầu như e ngại, không dám nghĩ về mình. Gác lại những gì vừa xảy ra, cái vốc tiền xu đó có ý nghĩa gì? Là tiền thưởng chăng? Có phải tôi phán xét người phu xe? Tôi không thể tự trả lời mình được.

Việc ấy đến nay tôi vẫn còn nhớ mãi. Nó thường khiến tôi ray rứt, cứ cố nghĩ về chính mình. Bao nhiêu chuyện văn chuyện võ tôi đã quên hết sạch, cũng như tất cả sách vở thánh hiền tôi đã học lúc thiếu thời. Vậy mà câu chuyện nhỏ này cứ đọng mãi trong tôi, lúc nào cũng sinh động, dạy cho tôi biết xấu hổ, thúc giục tôi sửa mình, giúp tôi thêm dũng khí và hy vọng.





THÂN TRỌNG SƠN
dịch và giới thiệu
(1/2019)

Nguồn:

Selected Stories of Lu Hsun
Translated byYang Hsien-yi and Gladys Yang


http://www.coldbacon.com/writing/luxun-calltoarms.html#Wineshop


mercredi 26 décembre 2018

VIỆC LÀM ĐÊM




Truyện ngắn
Joannita Male
Uganda.




Tác giả Joannita Male, người Uganda, nước Cộng hoà nằm ở Trung Phi, từng là thuộc địa của Anh, giành độc lập từ năm 1962. Uganda hiện có trên 34 triệu dân, ngôn ngữ chính thức là tiếng Anh. Điều dễ hiểu là đất nước này chưa có một nền văn học nổi bật, Joannita Male chưa phải là một cái tên được nhắc tới.
Truyện ngắn này được trích từ một tuyển tập Truyện và Thơ của các tác giả châu Phi, giới thiệu 12 tác giả với những góc nhìn khác nhau về cuộc sống chung quanh.

Trước hết, xin hãy đọc mấy lời Tự bạch của nhà văn nữ:

“ Tôi sẽ viết.

Từ lâu lắm rồi, tôi từng mơ trở thành nhà văn. Để có thể dùng ngôn từ làm xúc động mọi người, bằng cái cách tôi từng xúc động, để có thể chạm vào những nỗi đau, gợi đến những cảm xúc được giấu kín. Tuy nhiên, thật lạ lùng, với thời gian, những giấc mơ lụi tàn, niềm tin vào chính mình phai nhạt dần, và ta để trôi đi mất những gì lâu nay ta tin là mình làm được. Ta để mọi ước mơ tiêu tan mất, để người khác xác định tính cách chúng ta.
Hai tháng vừa qua là một trong những giai đoạn khó khăn nhất trong đời tôi. Tôi phải đối phó với những mối quan hệ đã đổ vỡ, với sự chán ngán thường xuyên. Cảm thấy cô đơn, không ai hiểu được mình. Vào thời điểm này, lẽ ra tôi phải nhờ đến quyền lực cứu chữa của việc viết lách. Thế nhưng, ngược lại, tôi đắm chìm trong than vãn, thu mình lại và tuyệt vọng.

Giờ này, lòng tôi đã quyết: kiên trì với ước mơ, không để nó trôi đi. Tôi sẽ là nhà văn, và với câu chữ của mình, tôi sẽ hoà giải, gắn kết, chúc phúc, chi phối, làm khó chịu, thậm chí  chọc tức người khác. Điểm mấu chốt là tôi sẽ làm trổi dậy niềm cảm xúc nơi người khác, mà không thế, nó sẽ mãi ẩn chìm thôi. Tôi biết tôi có thể làm điều này, cầu xin Chúa phù hộ tôi!  “

( Trích blog cá nhân của Joanita Male )
Saturday, Aug 21, 2010


Và như thế, “ Việc làm đêm “ là một thể nghiệm của tác giả trong việc đánh động cảm xúc của bạn đọc. Nhân vật chính, người kể chuyện, một nữ sinh viên không được nêu tên, nói tuổi, bình thản thuật lại một tối đi làm thêm của mình, không để chi dùng cá nhân mà chỉ để đưa hết cho mẹ. Công việc quen thuộc của gia đình bởi mẹ cô, và có lẽ cả bà ngoại nữa, đã từng làm. Ngày trước, mẹ cô mỗi đêm đón khách về nhà. Nay mẹ lớn tuổi không hành nghề được, cô tiếp tục việc đó, nhưng tội nghiệp hơn, cô phải ra đứng đường đón khách để theo về nhà nghỉ.
Cô bảo mẹ là cô đi làm nhân viên lễ tân để kiếm tiền. Mẹ cô tin, hay giả vờ tin, cô chẳng màng, bởi cô nhớ là mẹ đã khuyên cô nên chăm sóc cơ thể mình cẩn thận, sẽ có ngày dùng cơ thể để kiếm cơm!
Không rõ cô sinh viên làm công việc này bao lâu rồi nhưng đêm nay, cô tỏ ra thành thạo lắm, nhiều ngón nghề lắm, biết vận dụng những chỉ bày của mẹ và sáng tạo thêm những mánh khoé khác.

Sự việc bất thường, nếu không muốn nói là lạ kỳ, lại trở nên bình thường trong gia đình cô gái. Phải chăng tại đất nước kia nạn mãi dâm được công khai thừa nhận? Và cô gái sẽ tiếp tục mãi “việc làm đêm” như thế hay sao? 
Người đọc hoàn toàn tin rằng cô sẽ sớm từ bỏ công việc đó. Cô đã mong mỏi và quyết tâm tìm đến một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Không là một tác giả nổi tiếng, Joannita Male được giới thiệu ở đây như một bông hoa lạ trong vườn hoa văn học nghệ thuật thế giới.


——————



Bạn cần hiểu rằng tôi không chọn cuộc sống này - chính cuộc sống đã chọn tôi. Tuổi thơ đã ít nhiều chuẩn bị cho tôi vào cái nghề này - nếu có thể gọi đó là nghề.  Công việc này mẹ tôi đã từng làm, và mẹ của bà cũng vậy. Tôi nghĩ là mình không thể thoát được.

Buổi tối trời lạnh, lúc này khoảng bảy giờ. Tôi tin là hôm nay trời sẽ không mưa. Mưa làm cho công việc tồi tệ hẳn. Thật vậy, có ai ra đứng ở hè đường khi trời đổ mưa. Bầu trời xanh thẩm, vài ngôi sao lấp lánh. Tôi nghe nói là khi nào nhìn thấy sao thì chắc chắn sẽ không mưa. Ơn Trời!
Tôi mặc bộ đầm trắng, cái áo bó sát làm nổi bật đường cong hai bên hông. Màu trắng là màu thích hợp để được nhận ra giữa đám con gái khác, nhất là người có làn da sẫm như tôi. 
Tôi đã trang điểm xong. Mẹ tôi đã dạy tôi cách trang điểm. Son môi màu hạt dẻ ( màu đỏ thích hợp với làn da sáng hơn ), kẻ đậm thêm một chút mi mắt. Tôi mang giày cao gót mười lăm phân (1), chẳng phải kiểu cách gì, chỉ để dễ nhận ra. Với chiều cao 1,55 m (2), tôi thấp bé nhất trong đám gái ở đây. Tôi không mặc đồ lót, kinh nghiệm cho biết cách duy nhất để bắt khách là cho họ thấy trước sẽ được gì.

Tôi đang đứng ở đường Burton, một nhánh nhỏ trước khi đến bùng binh rẽ ra đường Yusuf Lule. Bọn gái khác phần lớn đã ra sẵn đây. Con đường không chút ánh sáng. Tôi thích như thế, khi có ánh đèn loé lên là tôi hy vọng sẽ có khách. Những toà nhà trên đường này là nhà ở, cải tạo thành văn phòng. Những cánh cổng rộng với biển hiệu lớn. Vào giờ này trong nhà không có chút tiếng động nào.

Có ánh đèn. Tôi vội cúi người xuống, vừa đủ để người lái xe có thể thoáng nhìn thấy anh ta sẽ có được gì nếu chọn tôi. Tôi cúi xuống, nhưng vẫn cố xoay người để anh ta có thể nhìn thấy một phần khuôn mặt tôi. Tôi mỉm cười. Giờ này thì tôi thạo việc đó rồi. Cũng do luyện tập cả thôi. Tôi chẳng cần phải vui mới cười được, thậm chí có thể cười khi khách đưa ra một cái giá thấp nhất... đây là một yêu cầu của nghề mà.

Một chiếc Corona trắng đi chậm lại gần chỗ tôi. Nhìn chiếc xe tôi biết ngay khách này sẽ không trả rộng rãi như mong muốn, nhưng cũng từ lâu rồi, tôi biết là không nên từ chối một cơ hội nào nếu không muốn bị đói meo.
Một khuôn mặt tối mờ nhìn tôi chăm chú, tôi chỉ nhìn thấy được đôi mắt mở to và hàm răng bóng lộn.
“ Lên xe đi”, hắn sốt ruột la to. Hắn phải phóng đi thật nhanh để khỏi bị ai nhìn thấy. Tôi nhảy lên xe, miệng vẫn cười. Không biết hắn đưa đi đâu nhưng tôi phải dứt khoát chuyện giá cả.
“ Nhanh hay chậm?” Tôi hỏi lớn, hai mắt nhướng lên, tôi vẫn thường làm như vậy.
“ Chậm, bao nhiêu? “, hắn thét lớn.
 Đây có thể là thời điểm khó khăn, tôi nghĩ thầm và đáp: “ Năm mươi ngàn.” 
“ Được.” hắn thốt lên rồi chạy thẳng ra chỗ mà tôi đoán là Ntinda. Từ đấy về nhà không mất nhiều tiền lắm, tôi ở Naalya, khá gần chỗ hắn đưa tôi tới. Chúng tôi dừng lại tại nhà nghỉ Max. Ai ở Ntinda cũng chọn điểm này. Chúng tôi xuống xe, hắn chạy vội ra. Tôi theo sau như một con chó vô thừa nhận. Bọn họ lúc nào cũng cư xử kiểu đó, hầu như muốn ban ơn vậy. Tôi ghét điều này! 

Chúng tôi lên phòng, hắn lẹ làng cởi quần áo, nằm dài ra trên chiếc giường đôi phủ chăn dày màu nâu. Mọi thứ nơi nhà nghỉ này đều buồn tẻ. Những chiếc màn cửa xấu xí màu nâu, hợp với chiếc chăn, những bức tường màu kem và những đồ đạc thiết yếu nhất trong phòng, tất cả có vẻ như mới được chuyển từ một trường tiểu học gần đó về.

Mọi thứ nơi nhà nghỉ này đều buồn tẻ như vậy, ngoại trừ khách hàng. Những khách hàng khác nhau, từ anh lái xe ôm tự thưởng cho mình sau một ngày kiếm được kha khá, cho đến những gã tài phiệt cố che giấu thân phận mỗi lần đi chơi.

Tôi đứng nhìn khách của mình, hắn có vẻ lực lưỡng, trông khá hơn nhiều so với đám khách tôi thường gặp. Hắn nhìn tôi, chờ đợi. Tôi cũng ghét điều này. Bắt đầu, tôi kéo váy lên. Tuy hắn trả tiền “ tàu chậm “, tôi định chỉ cho hắn “ tàu nhanh “. Hôm nay tôi không hứng thú  kéo dài. Tôi sẽ thoả mãn hắn vừa đủ để hắn không nhận biết sự khác biệt giữa nhanh và chậm. Công việc chính thức bắt đầu. Điều này tôi không ghét lắm, tôi giúp họ thoả mãn. Tất cả bọn họ. Chúng tôi lắc lư khi chiếc giường nhà nghỉ kêu cọt kẹt. Từ mấy phòng kế bên cũng vang lên âm thanh tương tự, như một bài ca với tiết tấu nhịp nhàng hoà hợp. Hắn nhăn mặt như đang bị đau đớn. Tôi biết mình đang làm rất tốt. 

Đây là lần đầu tiên của hắn. Tôi tin chắc như vậy. Hắn đã hỏi giá. Không ai hỏi giá như thế nếu không phải lần đầu.
Xong việc. Tôi nghĩ đến thời điểm này, có lẽ là lúc tôi ghét nhất, tôi thấy tự căm ghét bản thân mình. Đây là thời điểm tôi đổ lỗi mọi thứ lên mẹ tôi, là lúc ký ức tràn ngập tiếng mẹ tôi khóc mỗi đêm khi họ rời đi. Những người đàn ông khác nhau mẹ đem về nhà mỗi tối. Trước đây tôi không hiểu tại sao mẹ khổ sở đến vậy. Mẹ có thể kiếm đủ tiền để tự mình nuôi chúng tôi, mẹ là người mẹ tốt. Bây giờ lớn lên tôi mới hiểu.

“ Trả tiền đi,” tôi quát.
Giờ tôi không cười nữa. Đến lúc lấy tiền tôi khỏi cần cười nữa. 
“ Nhưng đắt quá” Tất nhiên, giờ xong việc rồi hắn mới nhận ra điều này. Tôi im lặng,  tranh cãi không giải quyết được gì. Tôi chỉ nhìn kỹ hắn ta. Hắn rút ra tờ bạc năm mươi nghìn si-ling (3) nhàu nát. Nhừng đồng tiền cũ, to hơn, nhạt màu hơn. Tôi giật lấy đồng bạc, nhét vào áo ngực trước khi hắn đổi ý. Hắn đi vào cái phòng tắm nhỏ xíu để rửa ráy.
 Vậy là đúng rồi, đây là lần đầu tiên của hắn.,

Tôi nhanh nhẹn lục túi quần hắn ta. Chẳng có gì. Tôi lục túi áo sơ mi, có chiếc ví, mấy tờ mười nghìn nhàu nát trong đó. Tôi vơ lấy rồi bỏ đi.
Nhà nghỉ Max thuận tiện cho công việc nhưng có lẽ không thuận tiện vì nằm xa đường cái. Điều đó có nghĩa là tôi sẽ phải gọi xe ôm. Tuyệt thật! 

Giờ thì tôi đi về. Trước khi đi tôi đã kịp mặc chiếc quần bó. Tôi tự hỏi không biết trước khi loại quần bó này thịnh hành thì các cô gái mặc gì. Mẹ ra mở cửa. Mẹ mỉm cười với tôi, bà biết là tôi mang tiền về. Cách đây khá lâu rồi mẹ thôi không đem khách về nhà nữa, với những người hành nghề này đã quá ngũ tuần chẳng còn mấy thị phần nữa đâu. Bằng cách nào tôi bước vào công việc này. Tự tôi cũng không giải thích được. Có lẽ do những người tình tôi từng có, hoặc do tôi quan sát cách mẹ tôi trang điểm mỗi ngày và một phần do cách mẹ chăm sóc chúng tôi. Cũng có thể do việc tôi được nuôi dạy với lời lẽ của mẹ :
 “ Con hãy chăm sóc cơ thể mình, có thể có ngày con sẽ dùng đến nó để nuôi sống mình.” Có thể là thế. 
Tôi nói với mẹ là tôi đi làm nhân viên lễ tân để kiếm tiền. Mẹ vờ tin điều đó. Cũng có thể mẹ tin thật. Tôi cũng không biết nữa. Mẹ chìa tay ra, chờ đợi. Nay ở tuổi năm mươi, mẹ tôi có một cơ thể rất tuyệt, tuy không còn xinh đẹp như trước đây. Cái nghề này đã ảnh hưởng lớn đến bà. Ẩn sau mỗi nụ cười của bà thấp thoáng nét ân hận, có thể do  hậu quả của việc làm đêm. Đó là lý do tại sao tôi sẽ dừng lại, chắc chắn là vậy. Một ngày nào đó không xa. Tôi chào mẹ, đưa cho bà tờ bạc năm mươi nghìn. Mẹ vẫn mỉm cười và bảo rằng mẹ rất tự hào về tôi. Thế đấy, giờ thì tôi thực sự chắc chắn. Đây là điều tôi chán ghét nhất - sự yêu thương của mẹ tôi.

Tôi bước về phòng mình. Ngày mai sẽ là một ngày dài, ở lớp đại học, tôi sẽ có bài kiểm tra môn xã hội học.



———————————- 
  1. six inch
  2. 5’1”
  3. Shilling, đơn vị tiền tệ chính thức của Uganda (UGX).



THÂN TRỌNG SƠN
dịch và giới thiệu
(12/2018)


Nguồn: